Chuyên mục phòng chống dịch Covid-19

BẢN TIN Về tình hình dịch bệnh và các biện pháp phòng, chống dịch bệnh COVID-19 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (Tính đến 15h00’ ngày 20/9/2021)

 

BẢN TIN

Về tình hình dịch bệnh và các biện pháp phòng,

chống dịch bệnh COVID-19 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

(Tính đến 15h00 ngày 20/9/2021)

 

A. THÔNG TIN CẬP NHẬT VỀ TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH

1. Tại Việt Nam:

 

- Tính đến 14h00’ ngày 20/9/2021, ghi nhận 687.010trường hợp dương tính với SARS-CoV-2, trong đó: 457.505 trường hợp điều trị khỏi, 212.471 trường hợp đang điều trị,17.090trường hợp tử vong (tăng 233 trường hợp).

- Tổng số ca lây nhiễmCOVID-19 trong nướctính từ ngày 27/4/2021 đến nay có 682.618trường hợp (tăng 10.025trường hợp so với ngày 19/9/2021), ở 62 tỉnh/thành phố.

- Khu vực phong tỏa và địa bàn ghi nhận ca bệnh COVID-19 trong cộng đồng tại Việt Nam từ ngày 27/4/2021 đến nay, cập nhậttại đường link: https://moh.gov.vn/dia-diem-cach-ly

2. Tại tỉnh Vĩnh Phúc: Tổng số ca mắc COVID-19: 234 trường hợp, thuộc các huyện/thành phố (Bình Xuyên: 08, Lập Thạch: 08, Phúc Yên: 49, Vĩnh Tường: 07, Vĩnh Yên: 15, Yên Lạc: 120, Sông Lô: 02, Tam Dương: 25). Trong đó: 0 bệnh nhân đang điều trị tại tỉnh; 01 bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương; 230 bệnh nhân đã được điều trị khỏi; 03 bệnh nhân tử vong.

Trong ngày không ghi nhận trường hợp mắc COVID-19 mới trên địa bàn tỉnh.Tính từ ngày 31/7/2021 đến nay đã qua 51 ngày trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc không ghi nhận ca mắc trong cộng đồng; Tính từ ngày 19/8/2021 đến nay đã có 33 ngày liên tiếp không ghi nhận ca mắc mới.

3. Tổng số trường hợp đã được giám sát y tế:lũy tích 78.858trường hợp.

- Số trường hợp F1 hiện đang cách ly: 0 người; tích lũy 3.676 người (tăng 0).

- Số trường hợp F2 hiện đang cách ly: 0 người; tích lũy 33.427 người (tăng 0).

- Số trường hợp F3 hiện đang cách ly: 0 người, tích lũy 28.124 người (tăng 0).

- Số trường hợp trở về từ các vùng dịch của các tỉnh/thành phố khác:13.120người (tăng 114), trong đó:

+Từ ngày 22/6/2021 đến nay:12.207trường hợp (tăng 114) tại các tỉnh/thành phố: Bắc Giang (260), Bắc Ninh (379), TPHCM (2.294), Hà Nội (7.108), Đồng Nai (112), Bình Dương (135) và các vùng có dịch khác (1.911). Số trường hợp đã lấy mẫu xét nghiệm 12.179(Dương tính 122, âm tính 12.034, chờ kết quả 23).

+ Đang cách ly tập trung: 704 trường hợp; cách ly tại nhà: 1.384trường hợp.

- Số cán bộ, tình nguyện viên tham gia hỗ trợ phòng, chống dịch từ thành phố Hồ Chí Minh trở về cách ly y tế tập trung tại tỉnh (Cơ sở cách ly Khách sạn Yến Ngọc): 41 người, tình hình sức khỏe ổn định, kết quả xét nghiệm 41/41 âm tính.

 

4. Tình hình xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 trên địa bàn tỉnh (từ ngày 30/4/2021 đến nay):

4.1. Tổng số mẫu được lấy xét nghiệm trong ngày: 13.614 mẫu (8.756 mẫu Realtime - PCR; 4.858 mẫu Test nhanh).

4.2. Tổng số mẫu xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 toàn tỉnh: 820.443 mẫu (234 mẫu dương tính; 819.787 mẫu âm tính; 422 chờ kết quả), trong đó:

- Nhóm 1: Đối tượng đối tượng xét nghiệm theo quy định Bộ Y tế: 4.326 mẫu, lũy tích: 178.040 mẫu

- Nhóm 2: Đối tượng xét nghiệm theo Nghị quyết số 03/2021/NQ-HĐND ngày 16/5/2021 của HĐND tỉnh: trong ngày 17, tích lũy 54.320mẫu.

- Nhóm 3: Đối tượng xét nghiệm tự nguyện: 588.083mẫu, trong đó:

+ Xét nghiệm tại các doanh nghiệp: Trong ngày 1.896 mẫu, lũy tích: 311.645 mẫu.

+ Xét nghiệm cho người dân: Trong ngày 7.375 mẫu, lũy tích: 276.438mẫu.

5. Kế hoạch triển khai tiêm vắc xin phòng COVID-19:

 

- Tổng dân số từ 18 tuổi trở lên: 810.197 người (tính đến tháng 5/2021).

- Tổng số vắc xin đã được nhận: 363.760 liều.

- Tổng số người đã được tiêm: 150.617 người (đạt 18,6% dân số trên 18 tuổi).

- Tổng số mũi đã được tiêm: 213.259 mũi (Mũi 1: 150.617, Mũi 2: 62.642).

- Kết quả triển khai tiêm:

+ Đợt 1: 6.890 người, đạt 111.1%; Đợt 2: 9.321 người, đạt 115%; Đợt 3: 18.725người, đạt 118.5%; Đợt 4: 43.671 người, đạt 106.5%; Đợt 5: 19.062người, đạt 119,1%; Đợt 6: 38.833 người, đạt 105,2%; Đợt 7: 10.448 người, đạt 116,1%;

+ Đợt 8: Tổng số tiêm đượctrong ngày 19/9/2021: 2.120 người, lũy tích 66.304 người, đạt 93,6%, dự kiến hoàn thành trước ngày 21/9/2021.

6. Khoanh vùng, cách ly xã hội: 0 địa điểm.

B. CÔNG TÁC ĐẢM BẢO

1. Các bệnh viện điều trị COVID-19:

1.1.Bệnh viện Tuyến tỉnh: Sẵn sàng bảo đảm điều trị cho các bệnh nhân mắc COVID-19, dự kiến: 544 người.

1.2.Bệnh viện tuyến huyện: Sẵn sàng các cơ sở điều trị cho các bệnh nhân mắc COVID-19 tại 9 huyện/thành phố với quy mô 50 giường/huyện (tổng 450 giường).

2. Các khu cách ly tập trung:

2.1. Thực trạng vận hành các cơ sở cách ly hiện có: Tổng số cơ sở đang có các trường hợp thực hiện cách ly: 16 cơ sở.

2.2. Phương án nâng cấp/bổ sung thêm các cơ sở cách ly mới: Sẵn sàng các địa điểm cách ly y tế tập trung trên địa bàn tỉnh dự kiến có thể tiếp nhận 20.000 công dân.

3. Vật tư y tế: Hiện nay tỉnh đã chủ động sẵn sàng các phương án bổ sung vật tư y tế và các điều kiện cần thiết khác để phục vụ phòng, chống dịch COVID-19 ở Cấp độ 3 (từ 20 bệnh nhân đến 1.000 bệnh nhân).

 

4. Công tác đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh:

4.1. Công tác quản lý xuất nhập cảnh, hoạt động của người nước ngoài:

Trong ngày, có 01 người nước ngoài quốc tịch Nhật Bản đến khai báo tạm trú trên địa bàn tỉnh với mục đích làm việc.

Hiện, toàn tỉnh có tổng số 2.585 người nước ngoài (Hàn Quốc: 1.002; Trung Quốc: 770; Đài Loan (Trung Quốc): 298; Nhật Bản: 143; Lào: 58; Campuchia: 56; Ấn Độ: 25; Quốc tịch khác: 233) làm việc, thăm thân, cách ly tại 288 cơ quan, doanh nghiệp, trường học; trong đó có 63 người nước ngoài đang cách ly sau khi nhập cảnh tại Khách sạn Dic Star - Vĩnh Phúc.

4.2. Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm liên quan đến phòng, chống dịch:

Lực lượng Công an tổ chức kiểm tra, nhắc nhở 07 doanh nghiệp, cơ sở lưu trú, kinh doanh trên địa bàn tỉnh; phát hiện 02 cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke không tạm dừng hoạt động, vẫn phục vụ khách đến hát (Bình Xuyên 01, Tam Đảo 01); hiện đang củng cố hồ sơ xử lý.

Đề nghị xử phạt 10 trường hợp số tiền 14.000.000 đồng về hành vi không đeo khẩu trang nơi công cộng (Vĩnh Yên 02, Phúc Yên 03, Vĩnh Tường 02, Tam Đảo 03); 02 trường hợp số 700.000 đồng về hành vi bỏ khẩu trang không đúng nơi quy định (Bình Xuyên); 02 doanh nghiệp số tiền 30.000.000 đồng về hành vi không chấp hành các biện pháp phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (Bình Xuyên); 01 trường hợp số tiền 2.500.000 đồng về hành vi không chấp hành mệnh lệnh của lực lượng chức năng, cố tình điều khiển phương tiện vượt qua chốt kiểm soát khi không đủ điều kiện (Lập Thạch).

Lũy kế từ ngày 01/5/2021 đến nay, lực lượng Công an Vĩnh Phúc ra Quyết định xử phạt hoặc đề nghị xử phạt 3.507 trường hợp số tiền 6.995.350.000 đồng với các vi phạm chủ yếu gồm: Không đeo khẩu trang nơi công cộng, không tạm dừng các hoạt động kinh doanh không thiết yếu, không chấp hành các biện pháp phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền,…

4.3. Công tác kiểm soát người, phương tiện ra vào tỉnh tại các chốt:

Lực lượng Công an tại 09 chốt kiểm soát, phòng dịch cấp tỉnh và 24 chốt kiểm soát cấp huyện trên các tuyến đường trọng yếu dẫn vào địa bàn tỉnh đã chủ trì kiểm tra 14.971 lượt phương tiện, 18.534 lượt người; yêu cầu quay trở lại địa phương 235 phương tiện không đáp ứng các yêu cầu phòng, chống dịch; cho vào địa bàn tỉnh đối với 17.692 người có phiếu xét nghiệm âm tính hoặc test nhanh kháng nguyên âm tính với virus SARS-CoV-2 trong vòng 72 tiếng trước khi vào tỉnh; hướng dẫn khai báo y tế điện tử 6.275 lượt người, chưa phát hiện trường hợp nghi nhiễm bệnh; tiếp nhận 5.364 tờ khai của công dân trên phần mềm quản lý di biến động của người ra vào vùng dịch. Bàn giao chính quyền địa phương xử phạt 07 trường hợp không đeo khẩu trang.

5. Các Tổ phòng, chống COVID cộng đồng: Tổng số 1.368tổ, với 11.186thành viên tham gia.

 

 

 

6. Kết quả phong trào toàn dân tham gia phòng, chống dịch và công tác của các Tổ liên gia tự quản:

Lực lượng Công an cơ sở tiếp tục duy trì, củng cố, kiện toàn hoạt động của 10.712 Tổ Liên gia tự quản ở địa bàn dân cư, gắn với hoạt động của các tổ COVID cộng đồng trong tuyên truyền, vận động thực hiện các quy định về phòng, chống dịch; đôn đốc việc thành lập các Nhóm Zalo phòng, chống dịch phục vụ trao đổi thông tin, tình hình. Đến nay, đã có:

- Tổng số Tổ Liên gia tự quản đã lập Nhóm Zalo phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID-19 là 8.560 Tổ (Sông Lô: 998; Lập Thạch: 1.458; Vĩnh Tường: 1.847; Yên Lạc: 1.179; Tam Dương: 808; Tam Đảo: 103; Bình Xuyên: 445; Vĩnh Yên: 1.075; Phúc Yên: 647).

            - Số Hộ gia đình ký cam kết phòng, chống dịch COVID-19 là 302.792 hộ (Sông Lô: 27.803; Lập Thạch: 41.618; Vĩnh Tường: 60.569; Yên Lạc: 44.029; Tam Dương: 34.475; Tam Đảo: 25.004; Bình Xuyên: 30.861; Phúc Yên: 17.553; Vĩnh Yên: 20.880).

- Số Thành viên Tổ Liên gia tự quản tham gia chốt “Bảo vệ vùng xanh” ở thôn, tổ dân phố là 1.505 thành viên (Lập Thạch: 02; Bình Xuyên: 07; Phúc Yên: 884, Vĩnh Yên: 80; Yên Lạc: 532).

- Trong ngày, lực lượng Công an và chính quyền cơ sở đã tiếp nhận 03 tin báo của người dân tố giác về cáctrường hợp vi phạm quy định phòng, chống dịch COVID-19 với các hành vi như không đeo khẩu trang, tụ tập đông người, trốn tránh chốt kiểm dịch,... qua đó làm cơ sở triển khai các biện pháp xử lý vi phạm.

C. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG DỊCH ĐÃ VÀ ĐANG TRIỂN KHAI

I. Thực hiện Quyết số 2519/QĐ-UBND ngày 12/9/2021 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc Quyết định số 2520/QĐ-UBND ngày 12/9/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc áp dụng một số biện pháp phòng, chống dịch bệnh COVID-19 trong tỉnh hình mới trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

Để đảm bảo thuận lợi cho các cơ quan, đơn vịtrong quá trình tổ chức thực hiện biện pháp cách ly y tế trên địa bàn tỉnh; ngày 17/9/2021, Ban Chỉ đạo Phòng, chống dịch bệnh COVID-19 tỉnh ban hành Văn bản số 8212/CV-BCĐ hướng dẫnnội dungtriển khai thực hiện các biện pháp cách ly y tế trên địa bàn tỉnh trong tình hình mới, cụ thể như sau:

1. Áp dụng biện pháp đối với người tiếp xúc gần với ca bệnh dương tính với COVID-19 (F1):

- Thực hiện cách ly y tế tập trung 14 ngày, lấy mẫu xét nghiệm SARS-CoV-2 (RT-PCR) ít nhất 03 lần vào ngày thứ 01, thứ 07 và ngày thứ 14.

- Kết thúc thời gian cách ly y tế tập trung, tiếp tục theo dõi sức khỏe tại nhà/nơi lưu trú 14 ngày, lấy mẫu xét nghiệm SARS-CoV-2 (RT-PCR) ít nhất 02 lần vào ngày thứ 07, ngày thứ 14.

2. Áp dụng biện pháp đối với người nhập cảnh:

2.1. Người đã được tiêm đủ liều vắc xin phòng COVID-19 (tính đến thời điểm nhập cảnh: liều cuối cách tối thiểu 14 ngày nhưng không quá 12 tháng), có giấy chứng nhận tiêm chủng. Hoặc là người đã từng bị nhiễm SARS-CoV-2 (có giấy chứng nhận xét nghiệm dương tính với SAR-COV-2 bằng phương pháp RT-PCR mẫu đơn không quá 6 tháng tính đến thời điểm nhập cảnh)và đã được điều trị khỏi, có Giấy xác nhận khỏi bệnh COVID-19/các giấy tờ tương đương do Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài xác nhận, đồng thời có kết quả xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2 (RT-PCR/RT-LAMP) trong vòng 72 giờ trước khi xuất cảnh, do cơ quan có thẩm quyền nước xuất cảnh xác nhận:

Thực hiện cách ly y tế tập trung 07 ngày, lấy mẫu xét nghiệm SARS-CoV-2 bằng phương pháp RT-PCR ít nhất 02 lần vào ngày thứ 01, thứ 07 và tiếp tục theo dõi sức khỏe trong 07 ngày tiếp theo (trừ trường hợp người nhập cảnh vào làm việc dưới 14 ngày và các trường hợp nhập cảnh khác theo quy định của BCĐ Quốc gia, Bộ Y tế, UBND tỉnh Vĩnh Phúc, BCĐ tỉnh Vĩnh Phúc).

Lưu ý: Việc hướng dẫn kiểm tra và công nhận giấy chứng nhận tiêm chủng, giấy xác nhận khỏi bệnh COVID-19 hoặc các giấy tờ tương đương khác của nước ngoài theo quy định của Bộ Ngoại giao, Cục Lãnh sự Bộ ngoại giao tại Văn bản số 3185/BNG-LS ngày 18/8/2021 của Bộ Ngoại giao; Văn bản số 2974/LS-PL ngày 06/8/2021 của Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao; Văn bản số 3100/LS-PL ngày 13/8/2021 của Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao và các Văn bản khác liên quan.

2.2. Người chưa được tiêm hoặc tiêm chưa đủ liều vắc xin phòng COVID-19 thực hiện:

- Cách ly y tế tập trung 14 ngày, lấy mẫu xét nghiệm SARS-CoV-2 ít nhất 03 lần vào ngày thứ 01, thứ 07 và ngày thứ 14.

- Kết thúc thời gian cách ly y tế tập trung tiếp tục theo dõi sức khỏe tại nhà/nơi lưu trú 14 ngày, lấy mẫu xét nghiệm SARS-CoV-2 ít nhất 02 lần vào ngày thứ 07, ngày thứ 14.

3. Áp dụng biện pháp đối với người đến/về tỉnh Vĩnh Phúc từ tỉnh, thành phố, khu vực có dịch:

3.1. Người sinh sống, lưu trú tại các tỉnh, thành phố, khu vực đang thực hiện giãn cách theo Chỉ thị số 16/CT-TTg hoặc khu vực đang thực hiện cách ly y tế vùng có dịch, Chính phủ yêu cầu không được di chuyển ra khỏi tỉnh, thành phố, khu vực đang thực hiện giãn cách.

Trường hợp bất khả kháng phảiđến/về tỉnh Vĩnh Phúc phải thực hiện cách ly y tế tập trung và xét nghiệm như đối với trường hợp F1 được quy định tại Mục 1nêu trên.

3.2. Người sinh sống, lưu trú (không thuộc các trường hợp quy định tạiĐiểm b, Điểm c của Mục 3 thuộc Điều 1 trong Quyết định số 2519/QĐ-UBND ngày 12/9/2021 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc) tại các tỉnh, thành phố, khu vực đang thực hiện theo Chỉ thị số 15/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trước khi vào tỉnh Vĩnh Phúc có xét nghiệm SARS-CoV-2 (Test nhanh kháng nguyên hoặc RT-PCR) âm tính trong vòng 72 giờ, thực hiện như sau:

- Người đã được tiêm đủ liều vắc xin phòng COVID-19 (có chứng nhận trên Sổ sức khỏe điện tử hoặc giấy chứng nhận tiêm chủng tính đến thời điểm về tỉnh: liều cuối cách tối thiểu 14 ngày nhưng không quá 12 tháng) hoặc người từng bị nhiễm đã được điều trị khỏi bệnh COVID-19 (có giấychứng nhận xét nghiệm dương tính với SARS-COV-2 (RT-PCR) mẫu đơn không quá 6 tháng tính đến thời điểm đến/về tỉnh) và có giấy xác nhận khỏi bệnh COVID-19 hoặc giấy ra viện: Thực hiện tự theo dõi sức khỏe tại nhà/nơi lưu trú 07 ngày kể từ ngày về địa phương, thực hiện xét nghiệm ít nhất 02 lần vào ngày thứ 01 và ngày thứ 07.

- Người chưa được tiêm hoặc tiêm chưa đủ liều vắc xin phòng COVID-19: Thực hiện cách ly y tế tại nhà, nơi lưu trú 14 ngày kể từ ngày về địa phương, xét nghiệm ít 03 lần vào thứ 4, ngày thứ 7 và ngày thứ 14 trong thời gian cách ly y tế tại nhà/nơi lưu trú. Kết thúc thời gian cách ly y tế tiếp tục tự theo dõi sức khỏe trong thời gian 14 ngày tiếp theo.

4. Áp dụng biện pháp đối với trẻ em:

4.1. Cha/mẹ/người chăm sóc trẻ em được đi cùng đến cơ sở cách ly tập trung hoặc được ở cùng trẻ em khi cách ly tại nhà/nơi lưu trú để chăm sóc trẻ nhưng phải có cam kết tự nguyện cách ly cùng trẻ em.

- Trường hợp Cha/mẹ/người chăm sóc không thể đi cùng, ở cùng thì chính quyền địa phương bố trí người chăm sóc trẻ (có kiến thức, kỹ năng chăm sóc, hỗ trợ trẻ em và đảm bảo đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 63 Luật trẻ em số 102/2016/QH13); đảm bảo trẻ em được duy trì liên lạc thường xuyên với gia đình, người thân.

4.2. Trẻ em dưới 16 tuổi là người Việt Nam, tiếp xúc gần với trường hợp mắc COVID-19: Thực hiện cách ly y tế tại nhà 14 ngày kể từ ngày tiếp xúc lần cuối với người nghi ngờ nhiễm SARS-CoV-2, theo dõi sức khoẻ 14 ngày tiếp theo; Thực hiện xét nghiệm SARS-CoV-2 cho trẻ và cha/mẹ/người chăm sóc theo quy định về cách ly tại nhà (Văn bản số 5599/BYT-MT ngày 14/7/2021 của Bộ Y tế và các Văn bản khác liên quan).

4.3. Đối với trẻ em dưới 18 tuổi là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam cùng cha/mẹ/người chăm sóc:

a) Nếu trẻ em và cha/mẹ/người chăm sóc đã tiêm đủ liều vắc xin phòng COVID-19 hoặc đã khỏi bệnh COVID-19 khi đáp ứng đủ các điều kiện nêutại tiểu Mục 2.1 thuộc Mục 2 nêu trên thì thực hiện như sau:

Trẻ em và cha/mẹ/người chăm sóc cùng thực hiện cách ly tập trung 07 ngày kể từ ngày nhập cảnh, tiếp tục theo dõi sức khoẻ tại nhà/nơi lưu trú 07 ngày (Văn bản số 6288/BYT-MT ngày 04/8/2021 của Bộ Y tế và các Văn bản khác liên quan).

b) Nếu chưa được tiêm hoặc tiêm chưa đủ liều vắc xin phòng COVID-19:

- Trường hợp cha/mẹ/người chăm sóc đáp ứng đủ các điều kiện nêu tại tiểu Mục 2.1 thuộc Mục 2 nêu trên thì trẻ cùng cha/mẹ/người chăm sóc thực hiện cách ly tập trung 07 ngày kể từ ngày nhập cảnh, thực hiện cách ly tại nhà trong 07 ngày tiếp theo và theo dõi sức khỏe đến hết 28 ngày kể từ ngày nhập cảnh. Thực hiện xét nghiệm SARS-CoV-2 cho trẻ và cha/mẹ/người chăm sóc vào ngày thứ 01, thứ 07, ngày thứ 14 kể từ ngày nhập cảnh.

- Trường hợp cha/mẹ/người chăm sóc chưa được tiêm hoặc tiêm chưa đủ liều vắc xin phòng COVID-19: Thực hiện cách ly tập trung 14 ngày cùng cha/mẹ/người chăm sóc kể từ ngày nhập cảnh; theo dõi sức khỏe tại nhà/nơi lưu trú 14 ngày tiếp theo. Thực hiện xét nghiệm SARS-CoV-2 cho trẻ và cha/mẹ/người chăm sóc vào ngày thứ 01, thứ 07, ngày thứ 14.

4.4. Đối với trẻ em dưới 18 tuổi là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhập cảnh nhưng cha/mẹ/người chăm sóc đang ở Việt Nam: Thực hiện cách ly tại nhà/nơi cư trú cùng cha/mẹ/người chăm sóc 14 ngày kể từ ngày nhập cảnh. Thực hiện xét nghiệm SARS-CoV-2 cho trẻ và cha/mẹ/người chăm sóc vào ngày thứ 01, thứ 07, ngày thứ 14.

4.5. Đối với trường hợp trẻ em được đưa đến cơ sở y tế để cách ly, theo dõi và điều trị COVID-19: Cha/mẹ/người chăm sóc được đến cơ sở y tế để chăm sóc nhưng phải ký cam kết tự nguyện chăm sóc trẻ sau khi được giải thích về các nguy cơ lây nhiễm COVID-19.

4.6. Yêu cầu về cách ly tại nhà/nơi lưu trú thực hiện theo Văn bản số 5599/BYT-MT ngày 14/7/2021 của Bộ Y tế và các Văn bản khác liên quan. Trường hợp nhà ở/nơi lưu trú không đáp ứng các điều kiện cách ly tại nhà hoặc trẻ em không có nhà ở/nơi lưu trú thì chính quyền địa phương chịu trách nhiệm bố trí, sắp xếp cách ly phù hợp cho trẻ em.

4.7. Các nội dung khác tiếp tục thực hiện theo Văn bản số 7020/BYT-MT ngày 25/8/2021 về cách ly phòng, chống dịch COVID-19 đối với trẻ em.

5. Áp dụng biện pháp đối với người bệnh, người chăm sóc người bệnh về tỉnh Vĩnh Phúc sau khi kết thúc đợt điều trị tại các cơ sở điều trị thuộc khu vực, tỉnh, thành phố đang thực hiện giãn cách theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, Chỉ thị số 15/CT-TTg của Chính phủ

5.1. Đối với người cần tiếp tục điều trị, chăm sóc y tế, yêu cầu người bệnh, người nhà người bệnh thực hiện:

- Xét nghiệm SARS-CoV-2 (Test nhanh kháng nguyên hoặc RT-PCR) có kết quả âm tính trong vòng 72 giờ trước khi vào tỉnh.

- Thực hiện cách ly, điều trị tại các cơ sở y tế theo phân tuyến chuyên môn, phù hợp tình trạng người bệnh.

5.2. Đối với người không cần tiếp tục điều trị, chăm sóc tại cơ sở y tế, yêu cầu người bệnh, người nhà người bệnh thực hiện:

- Xét nghiệm SARS-CoV-2 (Test nhanh kháng nguyên hoặc RT-PCR) có kết quả âm tính trong vòng 72 giờ trước khi vào tỉnh.

- Cách ly y tế tại nhà 14 ngày, xét nghiệm SARS-CoV-2 ngày thứ 01, 07, 14. Kết thúc thời gian cách ly y tế, theo dõi sức khỏe 14 ngày tiếp theo.

6. Nguyên tắc công tác bàn giao, vận chuyển, tiếp nhận người đã hoàn thành cách ly y tế tập trung về nhà/nơi lưu trú (bao gồm người nhập cảnh và các trường hợp phải cách ly y tế tập trung):

- Thực hiện theo quy định tại Công văn số 425/CV-BCĐ ngày 19/01/2021 của Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 về việc hướng dẫn bàn giao, quản lý sau khi hoàn thành cách ly tập trung; và các Văn bản của Sở Y tế: số 145/SYT-NVYD ngày 29/01/2021 về việc hướng dẫn bàn giao, quản lý sau khi hoàn thành cách ly y tế tập trung tại tỉnh Vĩnh Phúc; số 986/SYT-NVYD ngày 10/5/2021 về việc hướng dẫn bàn giao, tiếp nhận, quản lý người hoàn thành cách ly y tế tập trung phòng, chống dịch COVID-19; số 1240/SYT-NVYD ngày 23/5/2021 về việc tăng cường quản lý, theo dõi người hoàn thành cách ly y tế tập trung và thực hiện theo dõi tại nơi lưu trú.

- Trong quá trình di chuyển từ cơ sở cách ly tập trung về nhà/nơi lưu trú (đảm bảo 1 cung đường 2 điểm đến), người hoàn thành cách ly y tế tập trung phải luôn thực hiện thông điệp 5K, đặc biệt là đeo khẩu trang và giữ khoảng cách, luôn bật và sử dụng ứng dụng Bluezone.

II. Tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện các biện pháp, nhiệm vụ phòng, chống dịch, bệnh COVID-19 trên địa bàn tỉnh. Cụ thể:

1. Yêu cầu cấp uỷ, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở, với tinh thần tuyệt đối không lơ là chủ quan, ưu tiên bảo vệ sức khỏe, tính mạng cho nhân dân; bảo vệ thành quả đã đạt được, ngăn chặn và tiến đến chiến thắng đại dịch COVID-19. Chủ động bám sát tình hình thực tế, tiếp tục tăng cường các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, hiệu quả hơn nữa để vừa kiểm soát tốt dịch COVID-19 vừa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu đưa Vĩnh Phúc là “Vùng xanh” trong phòng chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Kiểm soát, ngăn chặn triệt để không để dịch lây lan từ bên ngoài vào, đồng thời không để dịch bùng phát ở bên trong. Yêu cầu các địa phương triển khai Phương án theo nguyên tắc 4 tại chỗ, với phương châm: “huyện giữ huyện, xã giữ xã, thôn giữ thôn; mỗi địa phương phải trở thành pháo đài vững chắc không để dịch COVID-19 xâm nhập, bùng phát”.

2.Chỉ đạo thực hiện nghiêm nguyên tắc 5K + Vắc xin của Bộ Y tế; thông điệp 5K + 5T của Ban Chỉ đạo tỉnh; Thường xuyên, liên tục đánh giá các nguy cơ tại các địa bàn, cơ sở sản xuất, kinh doanh, nơi tập trung đông người,...; tiếp tục xét nghiệm tầm soát cho các đối tượng có nguy cơ cao, các trường hợp có triệu chứng nghi ngờ mắc COVID-19,…; tiếp tục tăng cường quản lý công nhân, chuyên gia ngoại tỉnh làm việc tại tỉnh Vĩnh Phúc; yêu cầu các doanh nghiệp, địa phương quản lý chặt chẽ số lượng công nhân, người lao động di chuyển vào tỉnh và hoạt động vận tải, vận chuyển hàng hóa liên tỉnh đảm bảo các điều kiện phòng, chống dịch theo quy định.

3. Tiếp tục đẩy nhanh hơn nữa tiến độ tiêm phòng vắc xin COVID-19 cho các nhóm đối tượng ưu tiên và nhân dân, bảo đảm an toàn, hiệu quả. Chuẩn bị kỹ lưỡng các phương án dự phòng cho các tình huống sau tiêm.

4. Tăng cường kiểm tra, giám sát; siết chặt an ninh trật tự, đảm bảo các yêu cầu về giãn cách, vệ sinh môi trường, sinh hoạt cá nhân,... không để lây nhiễm chéo trong các khu cách ly tập trung và các cơ sở điều trị bệnh nhân COVID-19.

5. Chủ động, các phương án sẵn sàng bảo đảm nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư y tế, khung quản lý, điều hành,... các cơ sở cách ly tập trung và điều trị cho các bệnh nhân mắc COVID-19 cho từng cấp độ dịch bệnh theo quy định. 

6. Chủ động sẵn sàng các phương án huy động, bố trí lực lượng, nhân lực ngành y tế không phân biệt công, tư tham gia công tác phòng, chống dịch, công tác tiêm phòng, sẵn sàng với mọi tình huống, cấp độ dịch bệnh trên địa bàn.

7. Nâng cao trách nhiệm, chất lượng hoạt động và tiếp tục phát huy tối đa hiệu quả của các Tổ phòng, chống COVID cộng đồng và Tổ Liên gia tự quản; thường xuyên, liên tục giám sát, nắm bắt tình hình tại địa phương, nắm chắc các trường hợp trở về địa phương từ ngoài tỉnh để báo cáo các cấp chính quyền địa phương áp dụng các biện pháp, phòng chống dịch kịp thời.

8. Tăng cường thanh tra, kiểm tra công vụ; đẩy mạnh tuần tra, kiểm soát, siết chặt hơn nữa công tác quản lý địa bàn; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm đối với các tập thể, cá nhân vi phạm các quy định phòng, chống dịch COVID-19 và an ninh trật tự, gây hậu quả về dịch bệnh để đảm bảo tính răn đe của pháp luật./.

Ngày đăng: 20/09/2021
  • Tiêu đề *
  • Người gửi *
  • Email*
  • Nội dung bình luận*
Các tin cùng chuyên mục