Nhân vật lịch sử

Nguyễn Văn Giáp - Một thủ lĩnh xuất sắc trong phong trào chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX

Nguyễn Văn Giáp, tên húy là Nguyễn Thường, tự Văn Giáp, hiệu Chu Cát, thụy Trang Lương, sinh năm Đinh Dậu (1837), mất ngày 25 tháng 9 năm Đinh Hợi (1887). Ông quê gốc làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông trước kia (nay là xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội). Từ đời ông nội ông đã dời lên sinh sống và lập nghiệp tại làng Xuân Húc, tổng Lương Điền, huyện Yên Lạc (nay thuộc làng Xuân Húc, xã Vân Xuân, huyện Vĩnh Tường).

Nguyễn Văn Giáp đỗ cử nhân khoa Giáp Tý (1864) đời Tự Đức thứ 16, ra làm quan, lần lượt giữ các chức: Tri huyện Châu Lộc, Tri phủ Đoan Hùng và Bố chánh Sơn Tây. Trong bối cảnh chế độ phong kiến ngày càng suy tàn, bạc nhược, triều đình do dự, chủ định cầu hòa trước âm mưu xâm lược và ưu thế quân sự của thực dân Pháp, thì Nguyễn Văn Giáp nổi lên là một trong số không nhiều quan lại có tấm lòng thương dân, nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm chống giặc đến cùng.

Nguyễn Văn Giáp giữ chức Bố chánh tỉnh Sơn Tây vào lúc thực dân Pháp đẩy mạnh xâm lược Việt Nam. Chiếm xong sáu tỉnh Nam Kỳ, chúng đưa quân ra Bắc đánh chiếm thành Hà Nội, rồi đánh lên Sơn Tây là trung tâm kháng chiến chống Pháp của Bắc Kỳ lúc bấy giờ. Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Văn Giáp, quân và dân Sơn Tây đã chặn đánh quyết liệt bước tiến quân của kẻ thù và gây cho chúng nhiều thiệt hại. Nhưng với ưu thế về vũ khí, thực dân Pháp đã chiếm được thành Sơn Tây (16-12-1883).

Trước khi Sơn Tây thất thủ, Bố chánh Nguyễn Văn Giáp liệu sức không thể trụ nổi trước sự tấn công của giặc Pháp, đã rút quân về Lâm Thao (Phú Thọ), tập hợp nghĩa quân chống giặc trong lưu vực sông Thao. Cùng lúc ấy, thành Hưng Hóa cũng thất thủ vào tay giặc (12-4-1884). Tuần phủ kiêm Trấn thủ Hưng Hóa là Ngô Quang Bích([1]) đã rút quân sĩ lui về hai huyện Tam Nông và Cẩm Khê (Phú Thọ), phối hợp với quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc và một số quân Thanh có mặt ở Bắc Kỳ lúc đó để chống giặc([2]). Biết được tin này, Nguyễn Văn Giáp đã kéo quân về hợp sức với quân của Ngô Quang Bích, cùng lãnh đạo phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp trong toàn vùng sông Đà, sông Thao, sông Chảy, từ Sơn Tây, Hưng Hóa lên tới biên giới phía Tây Bắc. Trong số tướng dưới quyền Ngô Quang Bích, vai trò của Nguyễn Văn Giáp với tinh thần chiến đấu dũng cảm và tài chỉ huy đã làm cho ông ngày càng nổi bật, trở thành trụ cột của nghĩa quân. Trong hai lần đánh lui quân Pháp khi chúng tiến công vào Cẩm Khê (28-01-1885) và Sơn Vi (02-02-1885), buộc chúng phải lui về Hưng Hóa cố thủ, Nguyễn Văn Giáp và đội nghĩa quân của ông đều có những đóng góp xuất sắc.

Ngày 13-7-1885, vua Hàm Nghi ban Chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân, sĩ phu cùng nhân dân cả nước đứng dậy chống xâm lược Pháp. Đồng thời, Hàm Nghi cũng xuống Dụ khôi phục chức cũ và thăng chức mới cho một số quan văn, quan võ ngoài Bắc bấy lâu nay vẫn kiên trì kháng chiến chống Pháp. Chính dịp này, cùng với Tuần phủ Hưng Hóa là Ngô Quang Bích được phong chức Thượng thư Bộ Lễ sung Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ Đại thần, Bố chánh Nguyễn Văn Giáp cũng được thăng chức Tuần phủ Sơn Tây kiêm chức Tham tán Hiệp đốc Bắc Kỳ quân vụ, hai người có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với nhau lãnh đạo phong trào kháng chiến toàn vùng. Vì vậy, ngay sau khi Ngô Quang Bích đi sứ Trung Quốc (19-8-1885), thì Nguyễn Văn Giáp trực tiếp nắm quyền chỉ huy tối cao.

Tình hình lúc này rất có lợi cho quân Pháp. Phái kháng chiến trong triều đình nhà Nguyễn đã bị loại bỏ, thực dân Pháp tập trung quân, đẩy mạnh hoạt động quân sự trên chiến trường Bắc Kỳ. Đầu tháng 10-1985, ba binh đoàn giặc do tướng Gia -mông (Jamont) chỉ huy đã tiến quân, bao vây ba mặt căn cứ Thanh Mai - một trung tâm kháng chiến do Nguyễn Văn Giáp đứng đầu, nằm giữa lưu vực hai con sông Thao và sông Lô, trên đường từ Việt Trì đi Hưng Hóa. Trận đánh diễn ra liên tục trong các ngày 21, 22, 23 tháng 10-1985. Giặc Pháp bắn đại bác dọn đường rồi ồ ạt tổng công kích, nhưng khi vào trong căn cứ Thanh Mai chúng mới biết là đã tiến công vào chỗ không người, nghĩa quân đã rút đi khỏi căn cứ không biết từ lúc nào và bằng con đường  nào. Trước sức tiến công ồ ạt của kẻ địch, Nguyễn Văn Giáp đã kịp thời rút toàn bộ quân sĩ tiến lên phía Tây Bắc, về hướng Tuần Quán, dọc sông Thao, phía dưới Yên Bái độ vài dặm. Tháng 2-1986, giặc Pháp lại tập trung bốn binh đoàn  tiến đánh nghĩa quân ở Tuần Quán. Dọc đường hành quân, chúng đã bị nghĩa quân bám sát, đánh mạnh, tiêu hao nặng nề lực lượng, làm chậm bước tiến. Nhưng cuối cùng, chúng vẫn chiếm được Tuần Quán, tiếp đó chiếm và đóng đồn ở Yên Bái, Trại Hút, Phố Lu, Văn Bàn, Lào Cai.

Các trận chiến đấu diễn ra liên tiếp và không cân sức đã làm cho lực lượng nghĩa quân bị giảm sút, nhưng thanh thế của nghĩa quân thì vẫn tiếp tục được mở rộng. Quân Pháp vẫn phải thừa nhận: "Năm 1887, Bố Giáp (tức Nguyễn Văn Giáp) vẫn tiếp tục cai trị cả vùng Thanh Hoa Đạo".

Tháng 11-1887, một toán địch liều lĩnh bí mật tìm đường vào Nghĩa Lộ rồi bất thần ấp đến, Nguyễn Văn Giáp và Ngô Quang Bích phải lánh vào ở nhà đồng bào Mông gần đó. Mấy ngày sau, quân Pháp bị nghĩa quân đánh bật ra khỏi căn cứ và bị phục kích tiêu hao nặng nề trên đường rút chạy. Nghĩa quân giành lại được căn cứ, nhưng Nguyễn Văn Giáp lúc trở về đã bất ngờ lâm bệnh nặng, rồi mất. Hôm đó là ngày 25 tháng 9 năm Đinh Hợi.

Nguyễn Văn Giáp mất là một tổn thất lớn cho nghĩa quân. Ngô Quang Bích mất một người bạn tâm huyết với tài thao lược, chỉ huy, ngày đêm cùng bàn bạc quốc sự, tìm kế đánh giặc cứu nước. Trước các tướng lĩnh và nghĩa quân, Ngô Quang Bích đã tổ chức buổi tế lễ long trọng và đích thân đọc bài văn tế do chính tay ông viết, nhiệt liệt ca ngợi khí tiết hào hùng của Nguyễn Văn Giáp và tỏ lòng tiếc thương vô hạn người bạn chiến đấu. Bài văn tế có đoạn:

"... Khí tiết của Ngài

Sừng sững núi đồi

Tinh linh của Ngài

Sáng rực trên trời

Thù nước còn đó

Chí lớn chưa nguôi..."([3])

Mặc dù chủ tướng Nguyễn Văn Giáp đã mất, nhưng nghĩa quân dưới sự chỉ huy của các bộ tướng của ông vẫn tiếp tục chiến đấu, chặn đánh quyết liệt các đợt tiến công của giặc Pháp vào Nghĩa Lộ. Mãi đến nhiều năm sau, thực dân Pháp mới ổn định được tình hình ở vùng này.

Về sau này, một số nghĩa quân và anh em họ của Nguyễn Văn Giáp là Nguyễn Văn Tề và Nguyễn Văn Tập đã bí mật đưa hài cốt của ông về an táng tại làng Xuân Húc, xã Vân Xuân, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay. Năm 2007, gia đình và dòng họ đã tu sửa phần mộ, xây dựng lăng và dựng bia tưởng nhớ công trạng của ông.

Viết về phong trào chống thực dân Pháp nửa cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là các cuộc khởi nghĩa hướng ứng Chiếu Cần Vương (13-7-1885), sách Lịch sử Việt Nam do Giáo sư - Viện sỹ Nguyễn Khánh Toàn chủ biên đã ghi: "Lãnh đạo một phong trào rộng lớn ở Tây Bắc Bắc Kỳ (1885 - 1892) là Nguyễn Quang Bích (tức Ngô Quang Bích) ... dưới ông có nhiều tướng giỏi như Nguyễn Văn Giáp, Đốc Ngữ".... "Nguyễn Văn Giáp nguyên là Bố chánh Sơn Tây (nên còn gọi là Bố Giáp), chỉ huy nghĩa quân vùng Việt Trì - Phú Thọ. Năm 1886 - 1887, Nguyễn Văn Giáp mở rộng địa bàn hoạt động lên tới Ba Vì, Nghĩa Lộ, Sa Pa". Bên cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa có uy tín như giáo sư Đinh Xuân Lâm, giáo sư Vũ Khiêu, giáo sư Vũ Ngọc Khánh, nhà văn Ngô Quang Nam, nhà giáo Nguyễn Tất Thông cũng đã dành nhiều thời gian nghiên cứu và có những bài viết quan trọng về thân thế, sự nghiệp của Chủ tướng Nguyễn Văn Giáp.

Kỷ niệm 120 năm ngày mất của ông, ngày 04-11-2007 (tức 25 tháng 9 năm Đinh Hợi) tại làng Xuân Húc, xã Vân Xuân, huyện Vĩnh Tường đã long trọng diễn ra buổi lễ khánh thành bia và lăng mộ Hiệp đốc Quân vụ Đại thần Nguyễn Văn Giáp. Buổi lễ đã diễn ra trong không khí trang trọng, với sự có mặt của đông đảo con cháu dòng họ Nguyễn và đại diện của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (giáo sư Đinh Xuân Lâm, giáo sư Vũ Ngọc Khánh, nhà văn Ngô Quang Nam); đại diện Ban Quản lý Di tích tỉnh Vĩnh Phúc, Phòng Văn hóa, Thông tin và Thể thao huyện Vĩnh Tường, chính quyền địa phương cùng đông đảo nhân dân xã Vân Xuân.

Bài văn bia và các bức đại tự, câu đối được khắc trên lăng mộ Nguyễn Văn Giáp, là những lời ngợi ca hào sảng, tỏ lòng kính trọng và ngưỡng mộ của mỗi người dân hôm nay trước tinh thần yêu nước, chiến đấu tiết liệt, hết lòng vì dân, vì nước của ông. Tên tuổi của Hiệp đốc Quân vụ Đại thần Nguyễn Văn Giáp thật đúng với tám chữ mà Giáo sư Vũ Khiêu kính soạn: "Báo Quốc Cần Vương - Lương Thần Danh Tướng"./.



([1]) . Sử còn chép là  Nguyễn Quang Bích- đỗ Đình Nguyên khoa Kỷ Tỵ (1869) đời Tự Đức thứ 21. Ông gốc là người họ Ngô phát tích từ Thanh Hóa, dòng họ có công phò Lê Thái Tổ. Thé kỷ XVI, để tránh sự truy sát của nhà Mạc, họ Ngô đã đổi thành họ Nguyễn. (Theo nhà văn Ngô Quang Nam - hậu duệ đời thứ 4 của Ngô Quang Bích).

([2]). Quân thái Bình Thiên Quốc khởi nghĩa chống nhà Thanh (Trung Quốc) bị đàn áp đã vượt biên giới tràn vào miền Bắc nước ta. Trong số đông đó có một bộ phận do Lưu Vĩnh Phúc cầm đầu được triều đình Nguyễn thu nhận. Lưu Vĩnh Phúc được triều đình bổ chức quan và có công trong việc giữ gìn trị an một vùng biên giới và 2 lần chiến thắng trận Cầu Giấy  (1873; 1883). Lá cờ hiệu của đội quân Lưu Vĩnh Phúc màu đen nên được gọi là quân Cờ Đen.

([3]). Bài văn tế nguyên văn chữ hán có tên: Khốc Hiệp Đốc Quân vụ Nguyễn Đại Thần Văn.

 

                                                                     

 

  Quang Tuấn     

(Sưu tầm thực hiện)

 

 

 

Ngày đăng: 03/04/2014
  • Tiêu đề *
  • Người gửi *
  • Email*
  • Nội dung bình luận*
Các tin cùng chuyên mục