Di sản văn hóa

Vĩnh Tường có thêm 05 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia và cấp tỉnh

Vĩnh Tường là vùng đất cổ thuộc dải đồng bằng châu thổ sông Hồng. Trải qua hàng nghìn năm hình thành và phát triển, người dân Vĩnh Tường đã xây dựng, gìn giữ và lưu truyền một kho tàng di sản văn hóa đa dạng, chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật... Khẳng định những giá trị đó, đầu năm 2016, Vĩnh Tường tiếp tục có thêm 05 di tích được xếp hạng gồm 02 di tích Quốc gia và 03 di tích cấp tỉnh, góp phần nâng tổng số di tích xếp hạng của huyện lên 20 di tích cấp Quốc gia và 54 di tích cấp tỉnh. Qua tài liệu điền dã lập hồ sơ xếp hạng, bài viết sẽ giới thiệu khái quát về giá trị những di tích mới xếp hạng của huyện Vĩnh Tường.

Nằm vị trí trung tâm của huyện, thị trấn Thổ Tang không chỉ nổi tiếng về tài buôn bán mà còn là một trong những địa phương rất coi trọng việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa của ông cha để lại. Việc đình Phương Viên và miếu Trúc Lâm của thị trấn Thổ Tang được Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng cấp Quốc gia cuối năm 2015 là minh chứng sinh động. Đây là những công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của huyện Vĩnh Tường được khởi dựng từ lâu đời, chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật đặc sắc mang đậm sắc thái văn hoá vùng miền. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, sự tác động của thời gian, khí hậu, đến nay, đình Phương Viên và miếu Trúc Lâm vẫn còn lưu giữ được khá nhiều yếu tố của kiến trúc gốc và các cổ vật có giá trị. Đây chính là một trong những yếu tố rất quan trọng để  đình Phương Viên và miếu Trúc Lâm là 2 trong số 3 di tích của tỉnh Vĩnh Phúc được được xếp hạng di tích Quốc gia.

 

 

Đình Phương Viên, thị trấn Thổ Tang

 

Giống như những ngôi đình làng khác ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, đình Phương Viên có quy mô tương đối lớn, được xây dựng theo kiến trúc hình “chữ đinh” truyền thống với tòa đại bái đình 3 gian 2 dĩ; hậu cung 2 gian và mang đậm dáng dấp phong cách kiến trúc thời Nguyễn giai đoạn muộn, khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Hiện nay, đình còn lưu giữ được một số cổ vật có giá trị, tiêu biểu phải kể tới bộ kiệu “bát cống” có niên đại cuối thế kỷ XVIII, được các nghệ nhân dân gian trang trí bằng nghệ thuật chạm khắc tài tình, uyển chuyển.

 

Miếu Trúc Lâm, Thị trấn Thổ Tang

 

Cách đình Phương Viên không xa về phía Bắc, đến thôn Trúc Lâm, thị trấn thổ Tang, chúng ta có thể tham quan và chiêm bái ngôi miếu Trúc Lâm cổ kính. Miếu được khởi dựng từ thời Hậu Lê (thế kỷ XVII - XVIII) và tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 2ha với nhiều cây cổ thụ cành lá sum suê, quanh năm tỏa rợp bóng mát. Vì thế, bất cứ ai đến đây, chỉ cần bước chân đến công miếu thôi cũng đều cảm nhận được không gian thanh tịnh, vẻ linh thiêng và cổ kính của miếu Trúc Lâm. Miếu có 2 nguyên đơn chính là: Tiền tế và Hậu cung. Tuy nhiên, 2 nguyên đơn trong kiến trúc miếu Trúc Lâm lại không liên hoàn với nhau theo hình thức “chuôi vồ” thường gặp ở các ngôi miếu khác khu vực đồng bằng bắc Bộ mà chia tách riêng biệt bởi một khoảng sân nhỏ. Theo các nhà nghiên cứu thì: Giá trị của miếu Trúc Lâm không chỉ thể hiện ở niên đại mà còn ở nghệ thuật chạm khắc, trang trí rất tỷ mỷ của các nghệ nhân dân gian trên một số cấu kiện kiến trúc với các chủ đề như: “long tàng cúc diệp” hay “cúc diệp hóa long”,...thể hiện khát vọng vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ của con người.

Ngoài 2 di tích xếp hạng Quốc gia, huyện Vĩnh Tường còn có 3 di tích được xếp hạng cấp tỉnh gồm: Quán Đơi (xã Thượng Trưng), đình An Nội (xã Chấn Hưng) và nhà thờ họ Vũ Văn (thị trấn Thổ Tang). Trong số những di tích xếp hạng cấp tỉnh, quán Đơi là đặc biệt nhất, bởi lẽ, đây là loại hình Quán đầu tiên của tỉnh Vĩnh Phúc được xếp hạng. Một trong những giá trị lớn nhất của di tích quán Đơi là những tư liệu  cổ tìm được tại Viên Hán Nôm nói về hành trạng của ông Đơi, bà Đơi- vị thần được thờ tại quán Đơi. Đấy là bài thơ chữ Hán “Quán Đới” trích trong Tập Minh Ngư Thác do Lương Công Bộ Ngự sử triều Lê Bùi Bá Tạo viết vào thời vua Lê Cảnh Hưng. Theo đó, ông Đơi, bà Đơi chính là những nhân vật có thật, gắn với những giai đoạn lịch sử cụ thể của dân tộc chứ không phải được thần thánh hóa. Bài thơ được phiên âm chữ Hán như sau:                                                                                                       

“Vũ tộc dĩ Đường An

   Giao Ngư cư căng tín

Tế an hựu Hoàng tử

             Giáo khuyến hưu Quán Đới

      Chính năng thi Thái Thị

         Nghĩa nhân vũ cương diên

        Tầm xuân, xuân khả cảnh

        Kỳ phúc, phúc lai thành”

Dịch thơ:

                      “Họ Vũ khởi nguồn phủ Đường Yên

              Cư trú Cá Đới tròn nghĩa đạo

                  Che chở an hòa Hoàng Tử Diên

                          Ngày ngày khuyên dạy nơi quán Đợi

                    Đồng tâm Thái thị vun công đức

                      Nghĩa nhân nền trao trải dặm dài

                             Tìm xuân, xuân nảy thắm đường xuân

                                                                                                                       Cầu phúc, phúc rạng ngời cửa phúc.

 

Căn cứ vào bài thơ “Quán Đới”  thì quán Đơi được khởi dựng từ thời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (thế kỉ XVIII). Đây cũng là nguồn tư liệu quý để khẳng định và làm phong phú tích xưa về ông Đơi, bà Đơi được lưu truyền trong dân gian. Tích xưa lưu truyền rằng: Xóm Cá Đơi (nay là xóm Đơi, xã Thượng Trưng) có hai cụ già tha hương từ Bắc Ninh về đây sinh sống “Họ Vũ khởi nguồn phủ Đường Yên/ Cư trú Cá Đới tròn nghĩa đạo”. Hai cụ đã dựng quán nhỏ ven đường làm nơi bán nước trà đón khách bộ hành dừng chân đợi đò đi ngược, về xuôi. Thời bấy giờ, chúa Trịnh Giang lộng hành lấn át quyền vua Lê làm cho trong hoàng cung tôn thất bất bình rối ren, ngoài xã tắc lòng dân ly tán. Lúc đó, Thái phi Vũ Thị Mơ (mẹ chúa Trịnh Giang) bí mật giao Thái tử Duy Diên cho quan Ngự sử Bùi Tuấn Vũ đưa về Thượng Chưng (nay là Thượng Trưng), phủ Bạch Hạc, Sơn Tây nuôi giấu. Tại đây, Thái tử Duy Diên được ông Đơi, bà Đơi đùm bọc, chở che, nuôi dưỡng “Che chở an hòa Hoàng Tử Diên/ Ngày ngày khuyên dạy nơi quán Đợi”. Năm Canh Thân (1740), Trịnh Doanh lên ngôi Phủ chúa đã ép Duy Thận nhường ngôi vua trả lại cho cháu theo dòng đích, đồng thời cho người về Thượng Chưng đón Thái Tử Duy Diên, tôn lên ngôi Hoàng đế nhà Lê, lấy Niên hiệu là Cảnh Hưng. Sau khi Thái tử Lê Duy Diên lên ngôi vua, nhớ ơn hai cụ nuôi giấu thuở xưa, khi hai cụ ở quán quy tiên, nhà vua đã sắc ban Phúc thần, cho dựng tượng và lập Quán thờ hai Cụ trên nền đất cũ. Quán Đơi có từ ngày đó và nhân dân xóm Đơi thường xuyên hương khói. Năm Mậu Thìn (1748), Nguyễn Danh Phương nổi loạn cho quân phá Quán Đơi. Đến năm Giáp Thân (1764), Tuần phủ Đạo Khoan đứng ra quyên góp tiền của xây dựng lại Quán Đơi, xây giếng nước hình gương tròn và trồng thêm cây cảnh xung quanh. Hiện nay, Quán Đơi vẫn tọa lạc ở vị trí cũ, thuộc xứ đồng Sau Quán, thôn Đơi và vẫn còn đó “Cây cổ thụ đứng phơi trước gió/ Giếng Tràng sinh soi tỏ bóng trăng”.

 

 

Quán Đơi, xã Thượng Trưng

 

Nằm phía Bắc huyện Vĩnh Tường, đình An Nội, xã Chấn Hưng là một trong những công trình kiến trúc còn lưu giữ được một số cổ vật, di vật có giá trị mà tiêu biểu là bốn đạo sắc phong thời Nguyễn vào các năm Khải Định năm thứ 2 và năm thứ 9. Theo lời kể của các cụ cao niên thôn An Nội thì: đình An Nội xưa kia được xây dựng có quy mô to đẹp và bề thế trong vùng. Do những biến thiên của lịch sử, sự tàn phá chiến tranh, ngôi đình An Nội xưa đã bị thực dân Pháp đánh bom phá hủy. Tuy nhiên, sức sống của văn hóa tâm linh thật là mãnh liệt, tựa như một “mạch ngầm” mải miết chảy cùng thời gian và không bao giờ vơi cạn. Nhân dân thôn An Nội lại tiếp tục đóng góp tâm lực, trí lực, tài lực, vật lực,… để khôi phục lại ngôi đình làng có diện mạo mới như ngày hôm nay. Quy mô của ngôi đình An Nội ngày nay tuy không lớn, nhưng không gian kiến trúc của ngôi đình, các hiện vật, đồ thờ tự cùng các lễ tiệc, hội hè được tổ chức hằng năm đã trở thành một phần tất yếu trong đời sống tâm linh của nhân dân trong thôn.

 

 

Đình An Nội, xã Chấn Hưng

 

Bên cạnh các loại hình như: đình, miếu, quán thì nhà thờ họ trên địa bàn Vĩnh Tường cũng rất phong phú, đa dạng phản ánh rõ nét văn hóa dòng họ của cư dân nông nghiệp. Minh chứng cho sự phong phú đó, nhà thờ dòng họ Vũ Văn, thị trấn Thổ Tang cũng vinh dự được xếp hạng cấp tỉnh trong dịp này. Căn cứ kết quả điền dã, khảo sát để lập hồ sơ xếp hạng cho thấy, dòng họ Vũ Văn còn lưu giữ, bảo tồn được khá nhiều di vật, cổ vật, đồ thờ tự có giá trị như: Từ đường; lăng mộ viễn tổ, thủy tổ các đời; các bức hoành phi, câu đối và đặc biệt là cuốn thiện phả “Bản tộc mục ký” viết bằng chữ Hán Nôm. Nếu quan sát hàng chữ “Minh Mệnh thập tam niên tuế thứ Nhâm Thìn” khắc trên câu đầu của từ đường dòng họ Vũ Văn có thể khẳng định: Từ đường được khởi dựng vào năm Minh Mệnh thứ 13 (năm Nhâm Thìn 1832), có niên đại cánh ngay nay gần 200 năm. Đây chính là những yếu tố rất quan trọng để khẳng định giá trị về niên đại, cội nguồn của dòng họ được các thế hệ con cháu trong dòng họ trân trọng gìn gữ, bảo tồn.

 

Nhà Thờ họ Vũ Văn, thị trấn Thổ Tang

 

Việc các di tích của huyện Vĩnh Tường được Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch và UBND tỉnh Vĩnh Phúc xếp hạng trong cùng một thời điểm có ý nghĩa rất quan trọng, không những khẳng định sự đa dạng, phong phú của nhiều loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể trên địa bàn huyện mà còn là điều kiện rất thuận lợi để giới thiệu, quảng bá khai thác về tiềm năng phát triển du lịch của huyện đến nhân dân trong và ngoài tỉnh.

 

 

Phí Văn Liệu                        

Phó Trưởng phòng Văn hóa - Thông tin huyện

Ngày đăng: 11/03/2016
  • Tiêu đề *
  • Người gửi *
  • Email*
  • Nội dung bình luận*