Di sản văn hóa

Lễ hội đền Ngự Dội – Lễ hội tôn vinh nghề nông

Vĩnh Phúc là một vùng đất cổ, (là vùng đệm, chuyển tiếp từ miền núi, trung du xuống đồng bằng) của kinh đô Phong Châu – Việt Trì buổi đầu dựng nước. Mặt khác nơi đây lại nằm trong khu vực giao thoa và chịu ảnh hưởng của 3 vùng văn hóa – văn hiến lớn thời kỳ Bắc thuộc và Phong kiến tự chủ Kinh đô – Thăng Long, Kinh Bắc và Xứ Đoài. Điều đó nói lên tính chất liên tục, mật độ dày đặc, loại hình phong phú của hệ thống di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, cũng như các lễ hội cổ truyền của Vĩnh Phúc. Hàng năm trên địa bàn Vĩnh Phúc có gần 400 các lễ hội lớn nhỏ được tổ chức. Do đặc thù của điều kiện tự nhiên cũng như lịch sử hình thành của các cộng đồng dân cư mà hầu hết các lễ hội ở Vĩnh Phúc đều thể hiện quan niệm nhân sinh quan, vũ trụ quan của cư dân nông nghiệp; qua đó lễ hội đền Ngự Dội, thuộc thôn Duy Bình xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường diễn ra vào các ngày 14, 15 tháng Giêng hàng năm (trong đó, chính hội vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu) là một trong các lễ hội cổ truyền tiêu biểu của tỉnh Vĩnh Phúc.

 

Rước nước Đền Ngự Dội

 

Đền Ngự Dội thờ Tam Vị Đại Vương: Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn Đại Vương và Quý Minh Đại Vương. Ngôi đền gắn liền với truyền thuyết về Tản Viên Sơn Thánh. Tương truyền, sau khi chiến thắng được giặc Thục, Đức Thánh Tản trên đường trở về Đông cung (đền Và – Sơn Tây) có đi qua vùng đất của thôn Duy Bình ngày nay (trang La Phiên xưa), khi đến bờ sông Hồng bèn lệnh cho binh sĩ nghỉ chân, còn mình ra bờ sông tắm gội.  Đến bờ sông, thấy có cô gái đi cắt cỏ ngang qua, Ngài liền nhờ cô gái xuống sông múc nước. Cô gái thắc mắc rằng mình chỉ có cái sọt đựng cỏ không thể múc nước được, nghe vậy Ngài bảo cô gái cứ mang sọt xuống sông múc nước sẽ múc được. Quả nhiên cô gái mang sọt xuống sông thì múc được nước lên, lấy làm lạ cô gái liền trở về làng thuật lại câu truyện cho mọi người nghe. Thấy vậy dân làng lũ lượt kéo nhau ra xem thì thấy Ngài đang dùng sọt múc nước tắm gội, biết đây là bậc thánh thần nên họ vội vã về làng mổ lợn, sửa soạn lễ vật để mời Ngài ngự. Tuy nhiên, khi đang chuẩn bị thì dân làng hay tin Đức Thánh cùng quân lính đã sang bờ sông bên kia rồi, thế là dân làng lại vội vã đem lễ vật đang chuẩn bị ra bờ sông bái vọng. Vì thế mà lễ vật dâng Thánh hàng năm ở đền Ngự Dội có lợn sống phủ mỡ chài, trên sống gáy còn để sót lại chùm lông, trầu cau têm không quyệt vôi (các cụ cao niên lý giải rằng lễ vật do làm vội nên còn có những thiếu sót).

 

Lễ Rước Nước

 

Lễ hội đền Ngự Dội là một lễ hội dân gian đặc sắc, ở đây còn lưu giữ được các nghi thức, nghi lễ gắn liền với sinh hoạt, tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp xưa. Lễ hội được hình thành trên cơ sở huyền thoại về Tản Viên Sơn Thánh, một trong Tứ bất tử, người được coi là ông tổ của nông nghiệp Việt Nam. Lễ hội này diễn ra trong một không gian tương đối rộng, kết tinh và lan tỏa khắp cả vùng xứ Đoài xưa. Bởi trên thực tế thì tín ngưỡng thờ Tản Viên Sơn Thánh ở vùng Châu thổ sông Hồng – khu vực xứ Đoài là phát triển hơn cả (Hà Tây cũ, Vĩnh Phúc và một phần Phú Thọ), cũng giống như vùng Châu thổ sông Hồng – khu vực phía Nam lại xuất hiện hệ thống thờ Chử Đồng Tử - cũng là một trong Tứ bất tử và được coi là ông tổ của thương nghiệp Việt Nam (gồm các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và một phần Hà Nội). Ở cả hai hệ thống này, khi nghiên cứu các lễ hội dân gian cổ truyền đều thấy xuất hiện các thành tố gắn với nước. Có thể nhận thấy rằng, nước chính là yếu tố quan trọng nhất trong nông nghiệp và thương nghiệp (nông nghiệp cần nguồn nước tưới còn thương nghiệp xưa thì phải giao thương trên sông trên biển). Cũng bởi chính lẽ đó mà tại lễ hội đền Ngự Dội có nghi thức rước nước, đây chính là biểu hiện của ý thức cầu nước, cầu mùa, cầu an của cư dân nông nghiệp xưa mà chúng ta cần trân trọng và lưu giữ.

Lễ hội diễn ra vào các ngày 14, 15 tháng Giêng hàng năm. Trong đó chiều 14 nhân dân Duy Bình thực hiện nghi thức rước nước từ sông Hồng. Ngày 15 của các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì nhân dân 7 thôn: Vân Gia, Thanh Trì, Nghĩa Phủ, Mai Trai, Đạm Trai, Phù Sa, Phú Nhi của Thị xã Sơn Tây rước Thánh sang đền Dội tế “mộc dục”, còn vào những năm khác thì đền Dội lại rước sang đền Và tế “công đồng”. Trước lễ hội vài ngày, các vị trưởng lão, quan viên, chức sắc làng Duy Bình tiến hành một cuộc họp trù bị cho lễ hội (phân công các công việc cho từng người, sửa sang lại ngôi đền và lau dọn các đồ tự khí,…). Đến khoảng 6h sáng ngày 14, tiến hành dâng hương tại đền (báo cáo với Thánh về việc tổ chức lễ hội và cầu mong ngài phù hộ cho lễ hội được thành công tốt đẹp). Sau đó tiến hành các công việc như chồng kiệu tại sân đền, treo cờ, chuẩn bị cho công đoạn rước nước vào buổi chiều.

 

Lễ hội Đền Ngự Dội

 

Chiều ngày 14, đúng vào giờ Mùi (từ 13 đến 15h) đoàn rước nước xuất phát tại đền Ngự Dội tiến ra sông Hồng lấy nước về làm lễ Mộc dục cho Thánh. Đoàn rước gồm có hai kiệu là kiệu lễ và kiệu chóe. Kiệu lễ có 4 người khiêng (ngày nay sử dụng kiệu có 8 người khiêng), trên kiệu bày lễ hoa quả và một bát hương đồng lớn. Kiệu chóe là một giá gỗ được thể hiện bằng 4 thân rồng chầu bao xung quanh chóe, chiếc chóe được làm bằng sứ tráng men, kiệu chóe do 4 thiếu nữ khiêng mô phỏng lại truyền thuyết về việc Đức Thánh Tản Viên nhờ các cô thôn nữ gánh nước năm xưa. Đoàn rước nước đông đảo kéo dài suốt dọc triền sông, nhìn từ xa như một dải lụa nhiều màu sắc. Đi đầu đội rước là đôi rồng, tiếp theo là đội cờ, người thổi tù và, chống chiêng, phường bát âm, bát bửu, kiệu chóe, kiệu lễ, quan viên, dân làng. Vừa đi đoàn rước vừa hò reo náo nhiệt nhưng vẫn giữ hàng lối chỉnh tề đảm bảo được sự nghiêm trang của một nghi lễ thiêng. Ra đến bờ sông đoàn rước dừng lại ở nơi mép nước, một vị trải hai cái chiếu xuống rồi đặt hai cái kiệu lên đó rồi làm lễ “độ hà”. Lễ vật của lễ độ hà gồm có thanh bông hoa quả và lễ chín (xôi – chân giò hoặc xôi – gà). Cụ thủ từ trang trọng quỳ cạnh mép sông chắp tay cúng độ hà, xin âm – dương (trình báo với thần sông – hà bá, xin nước và cầu cho buổi rước qua sông ngày hôm sau được thuận buồm xuôi gió) xong thì kiệu chóe được rước lên thuyền rồng cùng quan viên. Dân chúng thì đi thuyền thoi, còn kiệu lễ ở lại. Đoàn thuyền đi ra giữa sông, đến dòng nước đôi thì tiến hành nghi lễ lấy nước. Ông mạnh bái thắp 3 nén hương, vái tứ phương, sau đó đoàn thuyền đi ngược chiều kim đồng hồ 3 vòng rồi dừng lại ở giữa dòng để lấy nước. Việc lấy nước nhất thiết phải làm theo cờ lệnh, khi cờ lệnh đang rủ xuống bất thần tung bay phần phật thì một người trong số quan viên (có sự phân công từ trước) lấy một vòng tròn bằng song, đường kính khoảng 80cm được quấn vải điều đặt xuống mặt nước, ông chủ tế lấy một chiếc gáo bằng gỗ, có chuôi dài khoảng 1m, sơn màu đỏ thẫm thận trọng múc từng gáo nước đổ vào chóe cho đến khi đầy thì đậy nắp lại. Sau đó 4 thiếu nữ khiêng chóe đặt lên kiệu và đoàn thuyền lại từ từ tiến lên bờ, rời thuyền rước kiệu chóe về đền Ngự Dội. Nghi thức rước này chính là biểu hiện của việc tôn vinh, quý trọng nguồn nước nuôi dưỡng sự sống đồng thời cũng để cầu an, cầu mùa, cầu cho mưa thuận gió hòa, vạn vật sinh sôi nảy nở. Đồng thời lấy dòng nước thiêng này để dùng cho việc tế tự, thờ cúng thần linh cho cả một năm. Sau khi rước nước về đặt trong đền, đoàn rước tiến về nhà ông mạnh bái được giao thay mặt dân làng chuẩn bị lễ vật tế Thánh (chủ tế được dân làng luân phiên bầu hàng năm, là người có đầy đủ các tiêu chuẩn định ra theo lệ làng). Lễ vật gồm có thủ lợn chín, xôi, gà (gia đình này có bao nhiêu người con trai thì phải sắp lễ bấy nhiêu con gà trống), hương hoa, oản quả,… được đặt trong các tráp lễ rồi rước ra đền. Đến khoảng 17h chiều ngày 14 thì tiến hành nghi lễ tế cáo tại đền Ngự Dội.

 

Rước Nước

 

Từ mờ sáng ngày 15, dân làng Duy Bình đã thức dậy ra đền để sửa soạn lễ vật dâng Thánh ngày hôm sau. Các cụ ông điều khiển các công việc chung, trai đinh mổ lợn, thịt gà, các cụ bà thì đồ xôi, đóng oản (xôi ở đây được đóng thành những tảng vuông như bánh trưng)… Các năm chính hội (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) thì đoàn rước gồm 7 thôn, của Thị xã Sơn Tây bắt đầu từ đền Và rước sang đền Dội. Đoàn rước có tới 8 kiệu, trong đó thôn Vân Gia (đền Và) có 2 kiệu là kiệu thánh và kiệu văn, kiệu y quan (mũ áo) của các Thánh do dân làng Phù Sa rước, còn lại mỗi một thôn có một kiệu lễ đi theo. Đoàn rước có khi lên đến hàng nghìn người đi một chặng đường dài khoảng gần 10km (vòng quanh Thị xã Sơn Tây) tiến ra sông Hồng, khi đoàn rước qua bất cứ ngôi đình hay đền, miếu nào thì dân làng đó đem lễ ra cung đốn. Tới bờ sông, từng cỗ kiệu lần lượt xuống thuyền để qua sông. Bấy giờ dân vạn chài làm ăn trên sông tấp nập kéo tới, thuyền đò ghép lại thành một cái phao lớn đưa kiệu và người qua sông.

 

Lễ tế Đền Ngự Dội

 

Ở phía bờ sông bên này, dân làng Duy Bình đã rước kiệu lễ ra chờ sẵn để nghinh đón, khi nhìn thấy nhau thì đôi bên cùng reo hò vang dậy cả khúc sông. Sau đó kiệu đền Dội dẫn đường, cả đoàn rước tưng bừng tiến về đền Dội (trước đó kiệu đền dội phải nâng lên, đặt xuống 3 lần để nghinh chào, sau đó mới quay kiệu dẫn đường). Đám rước tới bờ tả sông Hồng thì từng cỗ kiệu được đặt yên vị trước cổng đền Dội. Tại đây dân làng Duy Bình sở tại đặt lễ vật lên tam thờ Ban Thánh để “Tế cung Đốn”. Tiếp đó đoàn tế của Sơn Tây vào để “Tế Yên vị” Tam Thánh tại đền Dội, trong khi đó thì đội tế của Duy Bình sang miếu làm lễ trình quan bản thổ (miếu cách đền khoảng 20m), sau đó thì về đền tiến hành nghi lễ “Tế Mộc dục”. Tiếp sau lễ tế Mộc dục là lễ “Tế Đốn” (diễn tả việc tế lễ vội vàng theo tích xưa). Khi đội tế của Duy Bình thực hiện tế Đốn xong thì đến lượt bên Sơn Tây “Tế Khải hoàn” (ngày thắng giặc trở về) và lễ tạ. Theo lệ thì cứ khi nào lá cờ đại trước sân đền phất đổi hướng gió thì bên Sơn Tây bằng mọi giá phải tiến hành lễ tạ rồi ra về, cho dù nghi lễ tế khải hoàn chưa thực hiện xong (việc đổi hướng gió phù hợp với thời tiết vùng Châu thổ sông Hồng vào tháng Giêng thường có hiện tượng đổi gió lúc ban chiều). Đến đây thì phần nghi lễ đã kết thúc (quá trình tế diễn ra trong khoảng 5 tiếng), tiếp theo là dân làng sở tại vào dâng lễ cầu cúng.

 

Rước lễ sang Đền Và - Sơn Tây

 

Phần hội của lễ hội Ngự Dội lại diễn ra vào chiều ngày hôm đó với các trò chơi dân gian như chọi gà, cờ người, đu tiên và các sinh hoạt văn nghệ vui vẻ, náo nhiệt cho đến tận ngày hôm sau (ngày 16 tháng Giêng là tiệc làng, gắn liền với tích làm việc khao quân của Hai Bà Trưng).

 

Đền Ngự Dội

 

Từ năm 2006, sau hơn 50 năm bị gián đoạn, lễ hội đền Ngự Dội đã được xã Vĩnh Ninh huyện Vĩnh Tường cùng với nhân dân địa phương tổ chức (thôn Duy Bình đã bước đầu khôi phục từ năm 1999). Tuy nhiên trong quá trình tổ chức do chưa có sự nghiên cứu, khảo sát và nhiều nguyên nhân khác nên còn nhiều bất cập, chưa đúng với lễ hội cổ truyền xưa. Trước thực trạng đó, dưới sự chỉ đạo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc, năm 2009 Ban quản lý di tích triển khai dự án “Điều tra, nghiên cứu, phục dựng lễ hội đền Ngự Dội”. Địa bàn thực hiện dự án chính là không gian văn hóa lễ hội đền Ngự Dội cổ truyền, lấy thôn Duy Bình xã Vĩnh Ninh là chính, bên cạnh đó là đền Và (Sơn Tây) và các địa danh có liên quan. Trong khuôn khổ của dự án, kịch bản lễ hội đền Ngự Dội được xây dựng trên cơ sở bảo lưu các giá trị truyền thống kết hợp có chọn lọc với các yếu tố văn hóa hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống của dân tộc trên địa bàn tỉnh nói chung. Kịch bản này đã được áp dụng cho lễ hội đền Ngự Dội năm 2010 và trong các năm tiếp theo. Việc thực hiện dự án mà cụ thể là thông qua kịch bản sẽ góp phần thiết thực vào việc khôi phục, bảo tồn và phát huy một trong các lễ hội truyền thống đặc sắc của huyện Vĩnh Tường. Qua đó đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, đồng thời nâng cao nhận thức của xã hội đối với việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng./.

 

Theo "Vĩnh Tường - Di sản văn hóa"

Ngày đăng: 08/06/2015
  • Tiêu đề *
  • Người gửi *
  • Email*
  • Nội dung bình luận*