Di sản văn hóa

Tổng quan di sản văn hóa Vĩnh Tường

Vĩnh Tường là vùng đất thuộc dải đồng bằng bồi tụ của sông Hồng, nằm phía Tây nam của tỉnh Vĩnh Phúc, có diện tích tự nhiên 141,8 km2, gồm 26 xã và 3 thị trấn với dân số gần 20 vạn người. Phía Tây Bắc, Vĩnh Tường lấy sông Phó Đáy (còn có tên là sông Quả) làm ranh giới với xã Triệu Đề và xã Sơn Đông của Lập Thạch. Phía Tây bắt đầu từ xã Việt Xuân, Vĩnh Tường có con sông Hồng làm ranh giới tự nhiên với Việt Trì và Sơn Tây, kéo dài tới xã Vĩnh Ninh ở cực Nam huyện. Phía Tây Bắc, Vĩnh Tường giáp với xã Hoàng Lâu, Vân Hội, Hợp Thịnh thuộc huyện Tam Dương. Phía Đông huyên Vĩnh Tường hoàn toàn tiếp giáp với huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

 

Toàn cảnh phía trước đình Thổ Tang

 

Những phát hiện khảo cổ học trên địa bàn huyện Vĩnh Tường cho thấy vùng đất này từ xa xưa là địa bàn cư trú của người thượng cổ thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, cách ngày nay khoảng 4000 năm. Cũng qua các di chỉ khảo cổ này đã cho thấy, các cư dân đầu tiên của Vĩnh Tường đã biết tận dụng lợi thế về địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng để phát triển nông nghiệp, lấy trồng trọt và chăn nuôi làm hai nghề sản xuất chính duy trì cuộc sống. Dựa trên nền tảng từ nền kinh tế sơ khai đó để hàng ngàn năm sau Vĩnh Tường vẫn là một vựa lúa, là nơi có sản lượng lương thực và thực phẩm cao của Vĩnh Phúc.

  

Không gian chùa Tùng Vân

  

Thời kỳ Hùng Vương dựng nước, Vĩnh Tường thuộc bộ Văn Lang – kinh đô của nhà nước Văn Lang, được cai quản dưới triều đại Hùng Vương. Các tài liệu lịch sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử lược, Lĩnh Nam chích quái đều chép rằng, nhà nước Văn Lang có 15 bộ phân bố rộng khắp. Vùng đất này ngày nay bao gồm các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra. Với vị trí địa lý thuận lợi, vị trí hành chính quan trọng như vậy nên có thể đoán định rằng, thời Hùng Vương, Vĩnh Tường là một trong các địa bàn sinh sống đông đúc của cư dân Văn Lang. Đến thời Phục Phán An Dương Vương lập nước Âu Lạc thì Vĩnh Tường lại trở thành “ngoại ô”, là “phên dậu” ở phía Tây Bắc của kinh đô Cổ Loa. Trong suốt gần một ngàn năm đô hộ của phong kiến phương Bắc, đất đai Vĩnh Tường thuộc về quận Giao Chỉ. Đến thời Lý (1009 - 1225), Vĩnh Tường thuộc về lộ Quốc Oai (Sơn Tây cũ và Vĩnh Phúc, Phú Thọ ngày nay). Sang thời Trần và thuộc Minh (1226 - 1427), đất đai của Vĩnh Tường thuộc châu Tam Đới, lộ Đông Đô. Những năm đầu của nhà Lê Sơ, Vĩnh Tường thuộc Tây Đạo, đến năm Quang Thuận thứ 7 (1466) thuộc thừa tuyên Quốc Oai, năm Quang Thuận thứ 10 (1469) thì định bản đồ cả nước, đổi gọi thừa tuyên Quốc Oai là thừa tuyên Sơn Tây, lúc này Vĩnh Tường được gọi là huyện Bạch Hạc, một trong 6 huyện của phủ Tam Đới. Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì huyện Bạch Hạc có 63 xã, 5 thôn, 2 châu (bãi). Trong bản đồ Hồng Đức, bảng đính vào bản đồ thừa tuyên Sơn Tây và thừa tuyên Thái Nguyên, vào cuối thế kỷ XV thì huyện Bạch Hạc có 63 xã, 2 thôn, 4 phường. Còn theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú vào cuối thế kỷ XVIII thì huyện Bạch Hạc có 64 xã. Đầu thế kỷ XIX, huyện Bạch Hạc thuộc phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây, có 8 tổng, 61 xã, thôn. Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), phủ Tam Đới đổi tên thành phủ Vĩnh Tường (gồm 5 huyện: Bạch Hạc, Lập Thạch, Yên Lạc, Yên Lãng, Phù Ninh). Tên gọi Vĩnh Tường chính thức từ đó. Năm 1830, tách huyện Phù Ninh nhập vào phủ Đoan Hùng, đổi huyện Tam Dương từ phủ Đoan Hùng về phủ Vĩnh Tường. Năm 1832, lại tách huyện Yên Lạc và huyện Yên Lãng khỏi phủ Vĩnh Tường, phủ Vĩnh Tường còn lại 3 huyện là Bạch Hạc, Tam Dương và Lập Thạch. Năm 1899, thành lập tỉnh Vĩnh Yên, phủ Vĩnh Tường là một đơn vị độc lập, không bao gồm các huyện, song vẫn còn kiêm lý huyện Bạch Hạc. Phủ Vĩnh Tường khi đó gồm có 8 tổng, 73 làng. Huyện Bạch Hạc, do tri phủ Vĩnh Tường kiêm nhiệm cai quản có 2 tổng, 14 làng (theo sách Đồng khánh địa dư chí vào cuối thế kỷ XIX). Sang đến đầu thế kỷ XX, huyện Bạch Hạc được nhập vào phủ Vĩnh Tường, phạm vi một số tổng có sự thay đổi. Năm 1927, phủ Vĩnh Tường gồm 10 tổng: Đồng Phú, Đồng Vệ, Hưng Lục, Kiên Cương, Lương Điền, Mộ Chu, Nghĩa Yên, Tang Giá (Tang Đố), Thượng Trưng, Tuân Lộ với 85 làng, xã. Sau khi cách mạng tháng 8 (1945) thắng lợi, phủ Vĩnh Tường được thay thế bằng huyện Vĩnh Tường. Trải qua nhiều biến động lịch sử và những thay đổi về thành chính thì đến nay địa danh Vĩnh Tường đã ghi sâu vào tiềm thức người dân Vĩnh Phúc như là một trong các vùng đất cổ giàu truyền thống, văn hiến.

 

 

 

Song hành cùng thời gian, lịch sử dân tộc, con người vùng đất Vĩnh Tường cũng đã thể hiện được sự chăm chỉ chịu khó trong lao động, sản xuất, làm ăn, buôn bán, góp phần xây dựng quê hương đất nước. Trong suốt quá trình đó, bên cạnh việc làm ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống họ còn không ngừng sáng tạo nên các sản phẩm tinh thần, sản phẩm vật chất gắn liền với cộng đồng hoặc cá nhân, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, mang đậm bản sắc vùng miền, trở thành di sản văn hóa. Đó là những tài sản quý giá của cộng đồng cư dân Vĩnh Tường, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

 

Bài trí tượng phật chùa Hoa Dương

 

I.   Di sản văn hóa vật thể

Các dấu tích vật chất phản ánh về lịch sử, văn hóa, xã hội của vùng đất Vĩnh Tường đến nay còn lưu giữ được khá nhiều. Đây là những minh chứng sống động về một miền quê giàu truyền thống, có bề dày lịch sử và văn hóa. Kết quả điền dã, thống kê năm 2012, toàn huyện hiện có 239 di tích, đứng đầu toàn tỉnh Vĩnh Phúc, gồm: 73 đình, 80 chùa, 11 đền, 24 miếu, 4 quán, 25 điếm, 4 nhà thờ họ, 6 nhà thờ công giáo, 1 nhà thờ tổ nghề, 02 lăng mộ, 01 văn chỉ, 04 di tích khảo cổ, 04 di tích lịch sử cùng nhiều địa điểm lịch sử, phế tích, dấu tích chưa được phục hồi, khai quật. Trong số này có 18 di tích xếp hạng cấp quốc gia, chiếm tới 28% di tích quốc gia của toàn tỉnh và 44 di tích xếp hạng cấp tỉnh.

1. Di tích khảo cổ

Đồng bằng trung du Bắc Bộ được xem là cái nôi của nền Văn minh Việt cổ. Nơi đây đã phát hiện được hàng trăm di tích với những di vật chứng minh về một thời đại Hùng Vương dựng nước trong lịch sử dân tộc, cũng như về một thời đại văn minh sông Hồng rực rỡ. Nằm ở vùng chuyển giao giữa châu thổ và trung du Bắc Bộ nên vùng đất Vĩnh Tường là nơi trầm tích những dấu vết của nền văn minh sông Hồng thời tiền sơ sử. Phần lớn các di chỉ khảo cổ học được phát hiện trên địa bàn huyện Vĩnh Tường thuộc thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên và nằm ở các xã phía Bắc của huyện, bởi địa hình nơi đây là miền núi nên người Phùng Nguyên đã chọn và cư trú dưới chân đồi, núi đất, trên các doi đất cao gần sông, ngòi.

 

Kết cấu kiến trúc đình Bích Chu

 

Tiêu biểu có di chỉ Lũng Hòa (thôn Hòa Loan, xã Lũng Hòa) được phát hiện tháng 4 năm 1963, di chỉ Nghĩa Lập (xã Nghĩa Hưng) cũng phát hiện năm 1963, khai quật năm 1967. Các di chỉ này thuộc giai đoạn cuối thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên chuyển tiếp sang thời kỳ văn hóa Đồng Đậu, được các nhà khoa học đánh giá và gọi là giai đoạn Lũng Hòa hay Phùng Nguyên muộn (Hán Văn Khẩn – trường ĐH KHXH nhân văn – ĐH Quốc gia Hà Nội). Bên cạnh đó là các di tích và địa điểm khảo cổ học khác như: di tích Gò Mát ở phía tây bắc thôn Lũng Ngoại, xã Lũng Hòa, cách di chỉ Lũng Hòa khoảng 800m, được phát hiện năm 1972 và đã đào hố thám sát 1m2; di tích Đồng Hương thuộc thôn Hương Viên (Phương Viên), thị trấn Thổ Tang, được phát hiện năm 1978, chưa qua thám sát, khai quật; di tích Ma Cả thuộc thôn Phương Viên, Thị trấn Thổ Tang, đã điều tra thám sát, chưa khai quật; gò Đồng Cũ ở xã Lũng Hòa, Gò Đuông ở xã Bồ Sao, Bãi Mía ở xã Vĩnh Sơn; các địa điểm ở xã Vũ Di…

Xét về niên đại, văn hóa Phùng Nguyên là văn hóa vật chất của các bộ lạc thời Hùng Vương, giai đoạn bắt đầu dựng nước. Do đó ta có sở sở khẳng định rằng cư dân Vĩnh Tường thuộc dòng tộc gốc Việt cổ. Với bề dày lịch sử như thế, di sản văn hóa Vĩnh Tường đứng hàng đầu trong toàn tỉnh là tất  yếu.

2. Di tích kiến trúc nghệ thuật

Làng xã nào ở Vĩnh Tường cũng có đình, chùa, có nơi còn có cả đền, miếu, quán, điếm. Các công trình kiến trúc cổ này ít nhiều đều mang dấu ấn của nghệ thuật kiến trúc dân gian từng thời kỳ khác nhau, có nhiều giá trị trong nghiên cứu và có sức thu hút mạnh mẽ đối với khách tham quan.

 

Đình Hòa Loan

 

Tiêu biểu và nổi bật nhất cho loại hình kiến trúc nghệ thuật ở Vĩnh Tường phải kể đến đình làng. Dân gian xưa thường ca ngợi: “đình Đoài, cầu Bắc, chùa Nam”, nghĩa là đình đẹp phải ở xứ Đoài, cầu đá xứ Bắc, chùa thì ở phía Nam. Địa bàn huyện Vĩnh Tường ngày nay vốn nằm gọn trong vùng văn hóa xứ Đoài xưa nên loại hình kiến trúc đình làng ở đây phát triển khá rực rỡ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX. Mặc dù phải trải qua thời gian với những thăng trầm biến động của lịch sử xã hội, nhưng đến ngày nay nhiều ngôi đình làng ở Vĩnh Tường vẫn giữ được nguyên vẹn kiến trúc cổ xưa đồ sộ như: đình Thổ Tang (Thị trấn Thổ Tang), các ngôi đình ở xã An Tường (đình Bích Chu, đình Thủ Độ, đình Cam Giá), xã Lũng Hòa (đình Đông, đình Nam, đình Hòa Loan), đình Vĩnh Sơn (xã Vĩnh Sơn), đình Tuân Lộ (xã Tuân Chính). Các công trình kiến trúc này là những tư liệu quý giá để tìm hiểu và nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc đình làng không chỉ của riêng Vĩnh Tường mà của cả vùng Bắc Bộ nói chung.

 

"Hội mùa" chạm khắc trên kẻ Đình Thổ Tang

 

Đình Thổ Tang là một trong số các ngôi đình tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc đình làng Bắc Bộ thế kỷ XVII. Ở đình Thổ Tang còn lưu giữ hệ thống các mảng trang trí trên gỗ được thể hiện qua bàn tay tài hoa của người thợ dân gian bằng nghệ thuật chạm khắc với nhiều kiểu kỹ thuật chạm khác nhau như: Chạm nông, chạm lộng, kênh bong…Cùng với đó là nội dung, đề tài phong phú: Tiên cưỡi rồng, vợ chồng lười, cảnh nghỉ ngơi sau giờ lao động, cảnh đá cầu, đấu vật, chơi cờ, uống rượu. Những đề tài này tái hiện sinh động, sâu sắc nhưng cũng đầy hóm hỉnh về cuộc sống thường ngày của người dân trong xã hội phong kiến.

Nếu đình Thổ Tang có nhiều giá trị trong các mảng trạm khắc, đề tài trang trí thì ở cụm đình làng (Bích Chu, Thủ Độ, Cam Giá) ở xã An Tường lại mang vẻ đẹp duyên dáng của kiến trúc hình chữ “đinh” biến thể sang chữ “công” với hậu cung theo kiểu chồng diêm hai lớp mái nhẹ nhàng, thanh thoát, đao mác cong vút. Đây là kiểu kiến trúc đẹp mang đặc trưng riêng của giai đoạn nửa sau thế kỷ XVIII. Thời kỳ này các nghệ nhân dân gian không còn được “tự do” thể hiện các tác phẩm chạm khắc với nhiều đề tài bình dân nữa mà phải tập chung vào các chi tiết trang trí cầu kỳ ở khu vực thờ tự như: y môn, cửa võng, xà rồng, cốn mê. Đình Bích Chu, đình Cam Giá có hệ thống cửa võng được đục chạm hết sức tinh xảo, có giá trị kỹ thuật, mỹ thuật cao…

 

Phật ngọc Chùa Tùng Vân

 

Cùng với đình làng, ở Vĩnh Tường còn có nhiều loại hình di tích có giá trị kiến trúc nghệ thuật cao như chùa, đền, miếu. Các ngôi chùa cổ có quy mô lớn, đẹp nổi tiếng trong vùng, là trung tâm sinh hoạt văn hóa Phật giáo của người dân địa phương như: Chùa Tùng Vân (Thị trấn Thổ Tang), chùa Hoa Dương (xã Tuân Chính), chùa Bảo Quang (xã Thượng Trưng), chùa Vân Ổ (xã Vân Xuân), chùa Linh Sơn (xã Lũng Hòa). Ngoài ý nghĩa về tâm linh thì mỗi một ngôi chùa làng đều chứa đựng nhiều giá trị về kiến trúc, về nghệ thuật điêu khắc dân gian mà trọng tâm là nghệ thuật tạo các tượng tròn. Chùa Hoa Dương với hệ thống tượng thờ bằng chất liệu gỗ thế kỷ XVIII, có giá trị cao về kỹ thuật, mỹ thuật; mỗi pho tượng mỗi hình dáng, sắc thái biểu cảm khác nhau, muôn hình muôn vẻ nhưng đều toát lên vẻ thanh cao, trầm lắng mà rất đỗi tôn nghiêm chốn không gian của Phật – Pháp – Tăng. Chùa Bảo Quang với lịch sử xây dựng từ thời Mạc (thế kỷ XVII), lại có các pho tượng hậu được tạo hình trên chất liệu đá đặc trưng với những vẻ mặt nhân hậu, hiền từ, đầy hướng thiện của những thiện nam, tín nữ thành tâm đóng góp công, góp của hướng về với Phật. Chùa Tùng Vân nổi tiếng với hệ thống văn bia đá, chuông, khánh, chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đặc biệt là có pho tượng phật làm từ đá ngọc nguyên khối được ghi vào kỷ lục Việt Nam.

Cũng phải kể đến công trình đền đá Phú Đa với lối kiến trúc biệt phủ khác lạ mà khắp cả tỉnh cũng không nơi nào có. Được xây dựng từ thời Cảnh Hưng (1740 – 1786) cho tới nay, đền gần như chưa phải đại tu lần nào. Đền tọa lạc gần sông Hồng nên việc phòng chống lụt được dự tính ngay từ lúc kiến tạo. Khu đất dựng đền được đắp cao thành một quả gò hình mai rùa. Nền đền có nhiều cấp. Đền lại được bố cục nhiều lớp kiến trúc: Cổng đền, tiền đường, sinh từ, từ đường. Các nền nối với nhau bằng nhiều bậc, kè đá xanh xẻ hình hộp vững chắc, cống thoát nước được đào sâu, kè đá độ dốc lớn, có tác dụng chống mưa ngập, lũ tràn, tránh ứ đọng. Thời Tự Đức trận lụt lớn làm vỡ đê Vĩnh Tường, nước sông Hồng xoáy thành vực ngay cạnh đền nhưng đến đền Phú Đa, nước phải từ từ chảy vì gặp nhiều vật cản, không xô đổ, cuốn trôi được cái gì. Sau trận lụt đền Phú Đa vẫn đứng trơ trơ, để cho ta cả một tòa kiến trúc di sản độc đáo, giá trị văn hóa nghệ thuật lịch sử quý báu còn nguyên vẹn đến ngày nay. Hay như đền Đuông, được xây dựng trên nền đất cao, xung quanh có tường bao bọc. Từ ngoài vào đền phải qua tam quan, đến sân đền, chiều dai 30m, chiều rộng 10m, hai bên là tả mạc và hữu mạc. Hết sân đến nhà tiền tế, lầu trống rồi mới đến đại điện. Mặt nền nhiều lớp, nhiều cấp như thế khiến nước lũ không xối thẳng vào được, giúp công trình đứng vững trước thiên tai bão tố. Nhờ đó đền Đuông cũng như nhiều công trình tâm linh khác của Vĩnh Tường, dù tọa lạc trên vùng ô trũng của châu thổ sông Hồng, vẫn bảo tồn được nhiều di vật, cổ vật rất có giá trị. Đền Đuông còn lại đến ngày nay 11 pho tượng, gồm tượng thần Đông Hải Đại Vương và Long Nữ, tượng võ sĩ, tượng tả văn, hữu võ, sơn son thiếp vàng, cốt bằng đất sét – trấu; tượng hai con sư tử bằng gỗ, để mộc, chạm khắc tỉ mỉ, tả thực với bờm râu như thật, rõ từng sợi, sắc nét và dữ dội.

Sở dĩ các di sản kiến trúc của Vĩnh Tường còn lại đến ngày nay nhiều như thế là do cư dân Vĩnh Tường biết trù liệu trước việc chống lũ lụt, chống cháy, chống mối mọt ngay từ khi mới tạo dựng trên đất đồng bằng ô trũng thuộc châu thổ sông Hồng. Và ngày nay nhân dân Vĩnh Tường vẫn rất coi trọng việc bảo vệ, tu tạo, phục chế các di tích ấy, nên cả số lượng lẫn chất lượng di sản văn hóa kiến trúc của Vĩnh Tường mới đạt được nhiều thành tựu như thế.

3. Di tích lịch sử

Vùng đất Vĩnh Tường còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử, ghi nhận những đóng góp to lớn của các thế hệ người dân Vĩnh Tường trong công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng – kháng chiến. Ngay từ những năm đầu bị thực dân Pháp đô hộ, Vĩnh Tường đã có các căn cứ địa của nghĩa quân yêu nước chống Pháp. Thượng Trưng từng là địa bàn hoạt động của Chánh lãnh binh Thành Sơn Tây Nguyễn Quý Tân mà người dân địa phương quen gọi với cái tên rất gần gũi và kính trọng là cụ Lãnh Áo. Hiện nay còn di tích là đình Tích Lâm là nơi nghĩa quân thường xuyên họp bàn, luyện tập, tích trữ lương thảo, phục vụ cho các cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp. Đình Phú Hạnh là địa điểm tập kết của những người nông dân yêu nước chống Pháp do một quý tộc địa phương là cụ Lý Ấm đứng đầu để hưởng ứng “Chiếu Cần Vương” (của vua Hàm Nghi, từ năm 1885 đến năm 1896).

 

Khu lưu niệm Bác Hồ thăm Lạc Trung

 

Hầu hết các di tích ở Vĩnh Tường ít nhiều đều gắn với các sự kiện, hoặc là nơi che giấu, là cơ sở hoạt động của các chiến sỹ cách mạng. Nhiều nhất phải kể đến vùng Thượng Trưng, Vũ Di, Thổ Tang, Bồ Sao, miếu Tây Lư, ngôi miếu nhỏ thuộc xóm Tây Lư thờ thổ địa (thần đất), là nơi là cờ đỏ sao vàng đầu tiên của huyện Vĩnh Tường được treo công khai trong một cuộc mít tinh do Xứ ủy Bắc Kỳ, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Phủ ủy Vĩnh Tường chỉ đạo Tổng ủy Thượng Trưng và Tổng ủy Đồng Phú treo vào ngày 14/7/1941. Tại miếu đã diễn ra các cuộc họp và là nơi ở của nhiều cán bộ Xứ ủy Bắc Kỳ thời kỳ 1940 – 1941 và 1944- 1945. Miếu Tây Lư là nơi Mặt trận Việt Minh, Ủy ban Dân tộc giải phóng, Ủy ban khởi nghĩa huyện Vĩnh Tường họp và đưa ra nhiều quyết định quan trọng, cũng là nơi xuất phát của hơn 30 thuyền chở lực lượng cách mạng đi khởi nghĩa giành chính quyền ngày 21/8/1945. Đài tưởng niệm Lê Xoay ở Bồ Sao là nơi ghi dấu sự kiện người chiến sỹ cộng sản Lê Xoay – Bí thư Chi bộ Đảng Cộng sản phụ trách phong trào tỉnh Vĩnh Yên (ông được coi là Bí thư đầu tiên của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc) đã anh dũng hi sinh (tháng 4/1942) khi đang tổ chức treo cờ, dải truyền đơn tuyên truyền cách mạng nhân ngày Quốc tế Lao động 1 – 5. Di tích lưu niệm Hồ Chí Minh ở Lạc Trung (Bình Dương) là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện với cán bộ và nhân dân Lạc Trung ngày 25/01/1961, nơi sớm hưởng ứng phong trào “Tết trồng cây” do Bác phát động, và đã trở thành là cờ đầu về thành tích trồng cây vùng đồng bằng. Bên cạnh đó ở Vĩnh Tường còn có các địa điểm lịch sử khác gắn với những chiến công oanh liệt chống Pháp, chống Mỹ của quân dân Vĩnh Tường như: Bốt Thượng Lạp, đồn Sơn Kiệu, nhà tưởng niệm anh hùng liệt sỹ Nguyễn Viết Xuân.

II. Di sản văn hóa phi vật thể

Với lịch sử hình thành và phát triển qua hàng ngàn năm, cộng đồng cư dân Vĩnh Tường đã tạo nên một kho tàng phong phú các sản phẩm tinh thần mang đậm bản chất và cốt cách của con người nơi đây. Những giá trị truyền thống này thể hiện dấu ấn cội nguồn, được biểu hiện đậm nét trên tất cả các hình thái văn hóa dân gian từ sơ khai và được trao truyền đến tận ngày nay, thể hiện thông qua các phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, các lễ hội dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian, làng nghề truyền thống, món ăn, thức uống đặc trưng,…

1. Các vị thần được thờ ở Vĩnh Tường.

Có thể nói, tín ngưỡng sơ khai đầu tiên của cư dân Vĩnh Tường cũng như bao vùng đất khác là tục thờ cúng các sự vật hiện tượng như: đá, cây, nước, lửa, mây, mưa, sấm, chớp,… với quan niệm “vạn vật hữu linh”; dần dần được nhân hóa, lịch sử hóa thành các vị thần quyền năng. Các cư dân ven sông Hồng đặc biệt chú trọng thờ các vị thần cai quản sông – nước như: Thờ Long Vương ở Bồ Sao, thờ Hà Bá thủy quan ở Môn Trì, An Lão, Kim Đê, Vân Giang,… rồi cả một hệ thống làng xã ven sông thờ Tản Viên và hai bộ tướng của ông là Cao Sơn và Quý Minh. Thánh Tản Viên được dân gian đồng nhất với thần Sơn Tinh có phép thuật “trị thủy” giúp dân, về sau Ngài được lịch sử hóa sống vào thời Hùng Vương và được nhân dân ta tôn vinh là một trong các vị thánh “tứ bất tử”. Tản viên cũng là vị thần được thờ nhiều nhất trên địa bàn huyện Vĩnh Tường. Các vị nhân thần được lịch sử hóa có hành trạng khá rõ ràng. Thiên tướng Đinh Thiên Tích được hóa thân thành anh hùng đánh đuổi giặc Ân, được thờ ở vùng Đại Đồng, Tân Tiến. Các bộ tướng cùng vua Bà (Trưng Trắc) đánh đuổi giặc Đông Hán như: Nữ tướng Lê Ngọc Trinh được thờ ở làng Lũng Ngoại, Cả Lợi, Hai Lợi được thờ ở làng Vĩnh Lại, Ả Lã nàng Đê được thờ ở làng Phù Lập…

 

Tượng Hộ pháp Chùa Tùng Vân

 

Có nơi như làng Tuân Lộ, làng Phúc Lập lại thờ Cao Biền và phu nhân Triệu Thị Loan. Mặc dù là quan lại của triều đình phong kiến phương Bắc sang đô hộ, song Cao Biền lại có những đóng góp cho sự phát triển xã hội, có công với làng, với dân nên các làng xã này tôn thờ, tôn làm thần thành hoàng. Điều này thể hiện sự đánh giá rất công bằng, đầy tính nhân văn của nhân gian.

Thời kỳ phong kiến tự chủ có các danh tướng: Lý Nhã Lang được thờ ở các làng vùng An Tường, Thượng Trưng; Trương Hống, Trương Hát (thế kỷ VI) được thờ ở Bình Dương. Các làng ở Thổ Tang thờ Lân Hổ hầu đô thống Đại Vương đánh đuổi đế quốc Nguyên Mông xâm lược (thế kỷ XIII) để lại uy danh ghi vào sử sách và là nỗi khiếp sợ của quân giặc “Nam phương tráng khí, Bắc khấu hàn tâm – Khí nước Nam hùng mạnh, lòng giặc Bắc sợ run”. Rồi các danh nhân địa phương cũng được tôn kính, suy tôn làm thành hoàng, được nhân dân hương hỏa thờ cúng quanh năm như Nguyễn Danh Thường ở Phú Đa, Nguyễn Văn Nhượng ở Tứ Trưng.

Có làng còn thờ cả các vị tổ nghề (Bích Chu), thổ thần hoặc cả những vị không rõ lai lịch nhưng việc thờ họ lại được dân gian thấy “linh” khá phổ biến ở các xã Bình Dương, Thượng Trưng, Tứ Trưng, Cao Đại, Kim Xá,…

Việc thờ cũng thần linh ở các làng, xã của Vĩnh Tường cũng như bao làng quê khác trên đất nước Việt Nam, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Thông qua hình thức thờ cúng, suy tôn các vị thần linh, họ còn gửi gắm niềm tin, khát khao, ước vọng về một cuộc sống yên bình, hạnh phúc, sung túc đủ đầy, đồng thời cũng lấy sự uy nghiêm, linh thiêng của các vị thần mà giáo dục, răn đe, xây dựng các chuẩn mực đạo đức, nếp sống tốt đẹp cho cộng đồng.

2. Lễ hội dân gian

Địa bàn huyện Vĩnh Tường trước đây có tới 87 làng cổ, trong đó được biết đến nhiều như: Kẻ Rưng, kẻ Ngòi, kẻ Quả, kẻ Sậu, kẻ Giang, Rùa, Dầu, Cấu, Vó, Gành, Đọ… Trong không gian văn hóa làng xã này chứa đựng 77 lễ hội dân gian và 209 lễ tiệc thời vụ, tập quán khác như: xuống đồng, cơm mới, cầu đinh, tiệc bún, tiệc bánh,… Quy mô các lễ hội này thông thường được tổ chức theo làng, nhưng cũng có lễ hội mang tính chất vùng, miền như: Lễ hội đền Ngự Dội, lễ hội Rưng, lễ hội làng Bích Đại – Đồng Vệ, lễ hội làng Thượng Trưng, Kiên Cương,…

Chủ yếu các lễ hội trên địa bàn huyện Vĩnh Tường đều gắn với lịch sử, công trạng của các vị thần, thành hoàng được tôn thờ ở các làng, xã đó. Thông thường lễ hội diễn ra vào mùa xuân, bởi đây là thời gian nông nhàn, người nông dân được nghỉ ngơi, vui chơi sau những ngày tháng lao động vất vả và cũng chuẩn bị bước vào một vụ mùa mới. Các lễ hội này là để tưởng nhớ, tôn vinh công lao của thần, thánh nên được tổ chức vào các ngày kỵ húy như: Thánh đản, thánh hóa, hiển thánh, ca khúc khải hoàn. Bởi vậy nên ngoài thành tố hội để vui chơi ca hát thì còn yếu tố lễ, là các nghi thức, nghi lễ hết sức trang trọng, cung kính như tế, rước. Đặc biệt ở các lễ hội liên quan đến các vị thần là các danh tướng, còn có các trò chơi, trò diễn rèn luyện sức khỏe, tinh thần thượng võ như Hú đáo, kéo co ở Lũng Hòa (thờ nữ tướng Lê Ngọc Trinh), múa gậy ở Phù Lập (Ả Lã nàng Đê công chúa), đấu thiết lĩnh ở Nghĩa Lập (thờ tướng thời Hùng Vương); vật ở Thổ Tang (thờ Lân Hổ hầu Đô thống Đại Vương), ở Đại Đồng (thờ Đinh Thiên Tích); đua thuyền ở An Tường (thờ Lý Nhã Lang)…

Nằm trong tam giác châu thổ sông Hồng, các lễ hội diễn ra ở các làng quê Vĩnh Tường hầu hết đều liên quan đến sản xuất nông nghiệp, bởi cư dân ở đây chính là chủ nhân của văn minh lúa nước được hình thành và phát triển từ thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên các đây khoảng 4000 năm.  Lễ hội làng Bích Đại – Đồng Vệ có trình diễn trò “trâu rơm – bò rạ”, thông qua việc phô diễn các kỹ năng, cách thức hoạt động trong sản xuất nông nghiệp như cày bừa, cấy hái để luyện tập trước những vụ mùa mới và cũng là đề cao tôn vinh giá trị thành quả lao động khiến con người thêm yêu quý công việc đồng áng. Hay lễ hội nấu cơm thi ở làng Vân Giang, làng Văn Trưng cũng vậy, ở đây người nông dân cũng thể hiện sự quý trọng đối với hạt gạo bằng việc đồng nhất nó với những gì tinh túy nhất do trời đất ban tặng để mà dâng lên các thần linh tôn quý và tổ tiên bát cơm thơm dẻo.

 

Lấy nước trên sông Hồng

 

 Trong lễ hội của các làng xã ven sông Hồng trên địa bàn Vĩnh Tường còn có nghi thức rước nước trên sông đem về để thực hiện các nghi lễ tín ngưỡng và dùng cho thờ cúng. Đây cũng là cách thức “ứng xử” một cách trân trọng tự nhiên, môi trường sống, bởi đã là cư dân trồng lúa thì yếu tố nước là quan trọng hàng đầu. Cũng dễ hiểu khi ở hầu hết các làng này đều thờ Tản Viên (Tản Viên được coi là tổ của nhà nông) và các bộ tướng giúp việc của ngài.

Một loại hình cũng liên quan rất mật thiết với nông nghiệp là các lễ hội có tính chất “phồn thực” như trò bắt chạch trong chum ở lễ hội Rưng, trò “tung con” ở lễ hội làng Bích Đại – Đồng Vệ; cướp bông, múa bông ở Bàn Mạch, Thượng Lạp, Phủ Yên; cướp bông, gươm ở Bồ Sao, rước cây bông ở Cam Giá… Thông qua các trò chơi, trò diễn, nghi lễ mang đậm ý nghĩa cầu mùa, cầu đinh, nhân dân ta muốn gửi gắm ước vọng về sự phát triển sinh sôi của con người và vạn vật.

Bên cạnh đó, trong các lễ hội ở Vĩnh Tường còn có phong phú các hình thức diễn xướng, nghi lễ hay và các trò chơi dân gian đặc sắc như: Hát xoan ở làng Hoàng Thượng (Kim Xá); hát thờ ở làng Cao Xá, làng Bình Trù (xã Cao Đại), làng Nghĩa Lập, làng Hưng Lục (ở xã Nghĩa Hưng); hát ống ở làng Liên Hoa (xã Nghĩa Hưng); hát trống quân ở Yên Nội (xã Chấn Hưng), múa mo ở Bình Lỗ (xã Yên Bình), hội thi chạy còi làng Phong Doanh (Bình Dương). Ngoài ra cũng phải kể đến các lễ tiệc, tập quán liên quan đến nông nghiệp như: thượng điền, hạ điền, cơm mới và các lễ tiết gắn liền với lịch thời vụ (nông lịch): Thanh Minh, Đoan Ngọ, Trung Thu, Trùng Thập, Hàn Thực,..

Lễ hội dân gian ở Vĩnh Tường có từ rất lâu đời, là sợi dây gắn kết cộng đồng làng xã, là tấm gương phản chiếu đời sống văn hóa, tâm linh của người dân nơi đây. Thông qua lễ hội, mọi người được tham gia vui chơi, giải trí đồng thời gửi gắm niềm tin, ước vọng về một tương lai đủ đầy, hạnh phúc.

3. Các loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác

Vĩnh Tường từ xa xưa đã có nhiều làng nghề truyền thống: nghề dệt vải ở Vân Ổ (Vân Xuân); nghề mộc ở Bích Chu, Thủ Độ (xã An Tường); nghề rèn (ở Lý Nhân), nuôi rắn ở Vĩnh Sơn, nấu rượu ở Vân Giang (xã Lý Nhân), hay “giường tre Vĩnh Mỗ, giường gỗ Kiên Cương” tức nghề làm gỗ ở Kiên Cương (xã Ngũ Kiên),… Các làng nghề ở Vĩnh Tường hầu hết nội sinh trong các làng nông nghiệp trước những nhu cầu thực tiễn, được hình thành và phát triển từ quy mô cá nhân, gia đình rồi lan rộng ra cả làng trên cơ sở truyền nghề. Chính vì thế mà làng nghề ở đây khó mà tìm thấy vị tổ nghề. Các làng nghề thường mang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, tính xã hội cao.

Về văn hóa ẩm thực, từ những sản vật thu hái được qua các phương thức canh tác: trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản dựa trên sự ưu đãi của thiên nhiên, người dân Vĩnh Tường lại chăm chỉ, chịu khó nhưng cũng đầy sáng tạo nên các món ẩm thực dân gian của Vĩnh Tường cũng khá phong phú, hấp dẫn. Trong đó, tiêu biểu là: Rượu Vân Giang, đậu Rùa – Tuân Chính, thịt rắn Vĩnh Sơn, bánh Ngõa – Lũng Ngoại, nôm giá đỗ - làng Hoàng Xá,… mỗi món ăn đều chất chứa trong đó những tinh hoa của trời đất có hương vị riêng đặc trưng không thể lẫn với bất kỳ món ăn, đồ uống ở vùng quê khác.

 

Rượu rắn Vĩnh Sơn

 

Về loại hình nghệ thuật truyền thống, ở Vĩnh Tường trước đây có hát ghẹo ở Thổ Tang, hát vè ở Tứ Trưng, hát Xoan ở Kim Xá. Đặc biệt là hát cửa đình có nhiều ở làng xã với các phường hát, gánh hát nổi tiếng trong vùng. Đây là loại hình nghệ thuật phát triển rất mạnh mẽ trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX thì bị lãng quên và dần mai một, thậm chí không còn. Hiện nay ở đình Khách Nhi (xã Vĩnh Thịnh) còn có tấm bia đá ghi chép khá rõ về loại hình di sản này.

Là vùng đất văn hiến, người Vĩnh Tường học rộng, tài cao, vinh hiển và đỗ đạt. Văn miếu phủ Tam Đới đặt tại xã Cao Xá, huyện Bạch Hạc (nay là thôn Cao Xá, xã Cao Đại, huyện Vĩnh Tường), xây dựng từ thời Lê Sơ (thế kỷ XV), là một trong các văn miếu sớm nhất của tỉnh Vĩnh Phúc. Bên cạnh đó là hệ thống các văn từ (cấp tổng), văn chỉ (cấp xã) được cho là có số lượng nhiều nhất tỉnh. Ngoài chức năng là nơi thờ các vị tiên thánh của Nho giáo (đạo học chính thời Phong kiến), thì văn miếu, văn từ hay văn chỉ còn là nơi ghi danh, ghi dấu và tôn vinh, đề cao sự học, phải là vùng đất đỗ đạt, khoa bảng thì mới có hệ thống thờ tự này. Chính vì vậy mà khi nhắc đến Vĩnh Tường là nhắc đến một vùng đất có truyền thống hiếu học của tỉnh Vĩnh Phúc. Trong thời kỳ phong kiến tự chủ cả huyện có tới 24 vị đỗ tiến sĩ, 250 vị đỗ cử nhân, các làng xã nổi tiếng có người đỗ đạt thành danh là: Tứ Trưng, Thượng Trưng, Vũ Di, An Tường. Nhiều người được lưu danh trên bia đá ở Văn miếu – Quốc Tử Giám như: Phí Văn Thuật, Phí Quốc Thể, Bùi Công Tổn (Thượng Trưng), Nguyễn Tiến Sách (Tứ Trưng), Tô Thế Huy (Cao Đại),… Có người làm quan tới chức Thừa tuyên sứ như Bùi Hoằng, Lê Dĩnh (Thượng Trưng), Thượng thư Bộ Hộ Hoàng Bồi (Cam Giá), Tư nghiệp Quốc Tử Giám Nguyễn Văn Chất (Vũ Di),…

Di sản văn hóa Vĩnh Tường nhiều về số lượng, phong phú về loại hình, tiêu biểu đặc sắc ở kiến trúc đình làng, mang đậm bản sắc vùng miền như các lễ hội dân gian truyền thống, sâu đậm ý nghĩa nhân văn qua các ngôi chùa làng gần gũi, sự chăm chỉ đầy sáng tạo thể hiện ở truyền thống hiếu học đầy vinh hiển,… Tất cả làm nên một vùng đất văn hóa, văn hiến và văn minh. Người Vĩnh Tường từ xưa đến nay luôn biết trân trọng sự nghiệp của ông cha, nguồn gốc của tổ tiên; có phương pháp, cách thức hữu hiệu để trao quyền, tái tạo các di sản văn hóa, giữ nguyên vẹn cốt cách, kiểu dáng các công trình kiến trúc truyền thống, các tài sản do tiền nhân để lại. Vĩnh Tường biết mở lòng đón các nhà nghiên cứu, du khách tham quan để phát hiện, đề xuất các vấn đề về bảo tồn di sản văn hóa trong hiện tại và tương lai, để di sản văn hóa Vĩnh Tường mãi mãi trường tồn cùng năm tháng./.

 

 

 

Trích cuốn “Vĩnh Tường – Di sản văn hóa”

 

Ngày đăng: 11/05/2015
  • Tiêu đề *
  • Người gửi *
  • Email*
  • Nội dung bình luận*