Dành cho du Khách

Tùy bút

 VĨNH TƯỜNG QUÊ TÔI

 

            Từ thủa ấu thơ hai tiếng “Vĩnh Tường” đã in đậm trong tâm khảm của tôi qua lời kể của cha, qua lời ru của mẹ. Khi lớn lên một chút cha vẫn thường dặn chúng tôi qua những câu thơ:

Vĩnh Tường quê mẹ, quê cha

Nếu đi phải nhớ, dẫu xa cũng về

            Khi học lên THPT qua từng bài giảng của thầy cô, qua rất nhiều những mẩu chuyện mà cha kể tôi hình dung ra một Vĩnh Tường của riêng mình thật đẹp, thật gần gũi, thật thân thương: Như mẹ, như cha, như dòng nước mưa, như hương đồng nội. Vĩnh Tường của tôi gồm có 29 xã và thị trấn nằm trên một dải đất bằng phẳng thuộc châu thổ sông Hồng. Từ thủa xa xưa khi con người vừa thoát khỏi cuộc sống bầy đàn họ hội tụ trong 15 bộ lạc và một người có uy tín đã thống nhất được các bộ lạc ấy lập ra nhà nước đầu tiên trong lịch sử nước ta là nhà nước Văn Lang. Người đứng đầu là Hùng Vương. Rồi lần lượt 18 đời vua Hùng thay nhau kế vị đã dạy dân ta trồng lúa nước. Để phát triển nghề này các bộ lạc đã dần di chuyển xuống những vùng đồng bằng châu thổ của các dòng sông để sinh sống, lập nên những xóm làng. Vĩnh Tường cũng được hình thành từ ngày ấy, Trải qua bao biến đổi đến năm 1822 vua Minh Mạng (Tức Nguyễn Phúc Đảm) con trai thứ ba của Gia Long và Thuận Thiên Cao hoàng hậu họ Trần đã đổi lộ Tam Đái thành phủ Vĩnh Tường. Nhân dân Vĩnh Tường từ xưa đã có trong mình truyền thống yêu nước, hiếu học, có những đức tính rất sở trường của người nông dân đó là: Cần cù, chịu thương chịu khó. Qua lịch sử tôi rất cảm phục tấm lòng yêu nước thật mãnh liệt, thật nồng nàn của người dân Vĩnh Tường ở biết bao thế hệ. Trong cuộc khởi nghĩa oanh liệt của Hai Bà Trưng năm 40 Vĩnh Tường đã xuất hiện các nữ tướng làm bạt vía quân thù như: Lê Thị Ngọc Trinh ở Lũng Hòa, Ả Lã người Tam Phúc. Các tướng nam như Cả Lợi (Chấn Hưng), Đổng Vịnh người (Tân Tiến) rồi Long Nga ở Yên Lập. Sau này trong cuộc kháng chiến chống Pháp nhân dân Vĩnh Tường đã hưởng ứng chiếu Cần Vương của Vua Hàm Nghi đứng lên chống lại giặc ngoại xâm. Nhiều sĩ phu đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy như Lê Bột, Nguyễn Hữu Tân, Bùi Sâm làm cho giặc Pháp ăn không ngon, ngủ không yên. Tiếp đến người con dũng cảm của đất Vũ Di là Đội Cấn đã làm nên cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên chấn động Bắc Kì 1917. Những bà mẹ Thổ Tang cần cù một nắng hai sương cũng  đã sản sinh và nuôi dưỡng cho quê hương được một lãnh tụ của Quốc Dân Đảng đó là Nguyễn Thái Học. Những năm cuối của thập kỉ 30 thế kỉ XX xuất hiện người đảng viên cộng sản kiên cường đó là đồng chí Lê Xoay. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp do Đảng lãnh đạo Vĩnh Tường đã tiễn đưa 4200 thanh niên lên đường đánh giặc, góp cho cuộc kháng chiến hơn 3000 tấn lương thực. Trong suốt 9 năm trường kì của cuộc kháng chiến chống Pháp Vĩnh Tường đã hiến dâng cho Tổ Quốc 853 người con ưu tú để có được một: Điện Biên trấn động địa cầu. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước kéo dài 20 năm của dân tộc ta Vĩnh Tường lại tiếp tục đưa tiễn 29960 lượt thanh niên vào Nam chiến đấu. Trong đó có tới 2253 người con đã vĩnh viễn nằm xuống hòa dòng máu nóng của mình vào lòng sâu đất mẹ để có được : Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa. Đất Ngũ Kiên Vĩnh Tường đã trở thành địa chỉ đỏ của cả nước vì đã sinh ra và nuôi dưỡng được anh hùng liệt sĩ Nguyễn Viết Xuân với lời hô bất hủ làm rụng rời giặc Mĩ là : “ Hãy nhằm thẳng quân thù mà bắn”. Kể sao hết được những công lao của người Vĩnh Tường trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ Quốc. Vĩnh Tường còn là một vùng quê hiếu học. Thời phong kiến ở đây có hàng ngàn tú tài, 250 cử nhân và 22 tiến sĩ. Gần đây ngành giáo dục đào tạo Vĩnh Tường đã đạt được nhiều thành tích xuất sắc, số lượng giáo viên và học sinh giỏi ngày một tăng. Nhiều năm liền Vĩnh Tường trở thành con chim đầu đàn về giáo dục của tỉnh Vĩnh Phúc. Các làng xã văn hóa của Vĩnh Tường cũng ngày một đổi mới phát triển với tốc độ nhanh. Thổ Tang trở thành một trung tâm buôn bán sầm uất nhất huyện. Chỉ vài năm gần đây mà bộ mặt Vĩnh Tường đã có những thay đổi không ngờ: Các tòa nhà cao tầng mọc lên ngày càng nhiều, đời sống của nhân dân ngày càng no đủ, sung túc. Vĩnh Tường vốn là một huyện đất chật, người đông, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Bởi vậy ngay từ  nhỏ tôi đã rất quen thuộc với hình ảnh người nông dân cần cù , chịu khó, hay lam hay làm. Con người cũng sinh ra từ đất, được đất nuôi dưỡng, bảo bọc thành người. Từ hạt cơm trắng ngần như sữa mẹ, từ củ khoai ngọt lịm như chè, từ tấm mía vàng ươm như giọt nắng, từ bát canh cua ngọt đến bây giờ - Tôi đã lớn lên. Không ! Quê mẹ không nghèo. Qua bao lần đổi mới, ông bà, cha mẹ ta đã vật lộn với thiên tai, đã đắp đê , đào mương, đã thay mùa đổi vụ để tạo ra giống mới đến bây giờ mới hái được quả ngọt, trái sai. Năng suất lúa của huyện Vĩnh Tường ta đã đạt xấp xỉ 88 ngàn tấn lương thực vào năm 2012. Tuy chỉ là huyện nông nghiệp thuần túy nhưng đất mẹ Vĩnh Tường đã nuôi sống được gần 19 vạn dân. Những ngày xa quê, khi còn học cao đẳng sư phạm trên Phú Thọ tôi thường ra chợ ngóng chờ những chị Thổ Tang mang rau, cà chua lên đó bán để được nghe giọng nói Vĩnh Tường, để được thấy hình dáng tảo tần, vén khéo, chịu thương, chịu khó như của mẹ. Các chị cười mời tôi ăn miếng cơm nắm chấm muối vừng của họ. Hạt gạo quê mình sao mà thơm mà dẻo – Người dân quê mình thật chân chất thủy chung. Vĩnh Tường trong mắt tôi như một khoảng trời quê thật đặc biệt, thật thiêng liêng, thật tự hào mà dường như thứ tình cảm ấy tôi không dành cho bất cứ một vùng quê nào khác. Đúng như lời một bài hát:

 

Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người

 

 

********************************************************************************

 

Về làng

 

Chiều nay về lại cố hương

Thấy cầu mới bắc, thấy trường mới xây

Đàn bò no cỏ hây hây

Cành xoan trước ngõ nở đầy những hoa

Điện trong thôn bắc sáng loà

Tiếng loa vẳng xuống nhạc hoà trong thơ

Những con đường đẹp như mơ

Bê tông thẳng tắp trên bờ ao xanh

Lúa buông câu đón gió lành

Đàn ngan bơi giữa long lanh nắng chiều

Ruộng ngô nặng hạt đứng xiêu

Cò bay mỏi cánh đậu liều ngọn tre

Lời ru vẳng giữa trưa hè

Vang trong sâu thẳm người nghe ấm lòng

Bếp nhà ai nấu xôi chè

Hương bay, bay mãi bánh xe muốn dừng

Sáo diều tấu nhạc vang lừng

Gọi cơn gió mát thổi vừng cỏ may

Rượu chưa uống đã ngà say

Mừng cho quê mẹ giờ thay đổi nhiều

Đất ơi ! Muốn nói bao điều

Cố hương ta đó bao nhiêu ân tình

Người đi thương nhớ mái đình

Như thuyền nhớ bến, như mình nhớ ta

Cầu ao thả chiếc lá đa

Nhờ con đò nhỏ trở ta về làng

 

 

 

                                        Lương Nguyên                   

                                                                                     Giáo viên trường THCS Lý Nhân -Vĩnh Tường

 

 

 

 

 

 

Ngày đăng: 19/06/2013
  • Tiêu đề *
  • Người gửi *
  • Email*
  • Nội dung bình luận*